Đối tác marketing
VTV Youtube Bao Nguoi chan nuoi TH Ben Tre
CHIẾN LƯỢC KIẾM CHẾ STRESS NHIỆT Ở GIA CẦM
CHIẾN LƯỢC KIẾM CHẾ STRESS NHIỆT Ở GIA CẦM
Cập nhật 2020-06-23 01:31:49

Giới thiệu

Các chiến lược để giảm bớt tác động bất lợi của stress nhiệt đối với năng suất của gia cầm cần dựa trên một số phương pháp bổ sung, bao gồm điều kiện chuồng trại, thực hành quản lý và chiến lược dinh dưỡng.

Bài tóm tắt lược dịch trong tạp chí poultryworld.net do Dain biên soạn (2019) với tiêu đề “Strategies to master heat stress in poultry” viết về việc sử dụng các giải pháp dinh dưỡng đã được chứng minh là làm giảm bớt tác động bất lợi của nhiệt độ môi trường cao và cải thiện được năng suất gia cầm. Các phần tóm tắt của bài viết được trình bày dưới đây.

Stress nhiệt ảnh hưởng đến gia cầm  

Stress nhiệt hiện được coi là một yếu tố môi trường chính làm suy giảm sức khỏe và năng suất của gia cầm. Gánh nặng này tác động lên lợi nhuận của chăn nuôi gia cầm sẽ phát triển trên toàn thế giới trong tương lai vì lựa chọn di truyền cho sự tăng trưởng nhanh làm tăng độ nhạy cảm của vật nuôi với stress nhiệt. Ngoài ra, thị trường gia cầm của các khu vực ấm áp được dự báo sẽ tăng trong những thập kỷ sau. Nhiệt được tạo ra trong cơ thể là kết quả của các phản ứng hóa học khác nhau liên quan đến sự trao đổi hóa trung gian. Cơ chế cân bằng nội môi điều chỉnh sản xuất nhiệt cơ thể và mất nhiệt cơ thể cho phép giữ nhiệt độ cơ thể tương đối ổn định. Không có năng lượng bổ sung được yêu cầu để làm tiêu tan hoặc tạo nhiệt khi gia cầm ở trong vùng nhiệt độ trung tính. Tuy nhiên, các loài gia cầm phải hoạt động trong việc làm giảm thân nhiệt khi nhiệt độ môi trường vượt quá ngưỡng nhiệt độ tới hạn trên. Trạng thái sinh lý như vậy được gọi là stress nhiệt. Khi bị stress nhiệt, sự thất thoát nhiệt sẽ tăng lên thông qua bức xạ, đối lưu, truyền dẫn và bay hơi.

Hình minh họa: Stress nhiệt có thể dẫn đến giảm năng suất, hiệu quả thức ăn, tốc độ sinh trưởng hoặc sản xuất trứng.

Hệ quả của tập tính / sinh lý

Dưới nhiệt độ môi trường cao và mật độ thả cao, gia cầm càng khó làm mất nhiệt bằng cách truyền dẫn hoặc đối lưu. Sự bốc hơi hô hấp trở thành cơ chế mất nhiệt chủ yếu. Trong những tình huống như vậy, gia cầm cũng hạn chế các hoạt động có thể tạo thêm nhiệt, chẳng hạn như ăn vào hoặc di chuyển. Đồng thời, lượng nước uống vào tăng lên do những thay đổi trong điều hòa nội tiết. Stress nhiệt dẫn đến một số rối loạn chức năng:

- Nhiễm kiềm hô hấp.

- Thay đổi nội tiết tố làm suy giảm khả năng miễn dịch và sinh trưởng.

- Giảm tính toàn vẹn của thành ruột, được giải thích bởi:

  1. Stress thẩm thấu, gây mất nước.
  2. Stress oxy hóa, gây ra bởi các gốc tự do có thể gây hại các phân tử sinh học (DNA, protein, lipid, v.v.).

Những thay đổi này dẫn đến giảm năng suất, đặc biệt là hiệu quả thức ăn, tốc độ sinh trưởng hoặc sản xuất trứng.

Chiến lược dinh dưỡng để khắc phục stress nhiệt

Các giải pháp dinh dưỡng có thể giúp gia cầm đương đầu với stress nhiệt, với hai mục tiêu. Đầu tiên, để giảm chế độ sinh nhiệt gây ra bằng cách chọn chất dinh dưỡng có mức tăng nhiệt thấp. Thứ hai, để cung cấp cho gia cầm các chất dinh dưỡng có hoạt tính sinh học đặc hiệu giúp điều chỉnh các rối loạn chức năng sinh lý có liên quan đến stress nhiệt.

  • Nguồn năng lượng: Nhu cầu năng lượng duy trì tăng khi cần nhiều năng lượng hơn cho việc thở gấp. Đồng thời lượng ăn vào giảm. Tăng mức chất béo trong khẩu phần với chi phí của carbohydrate có thể làm giảm sinh nhiệt do khẩu phần, đồng thời tăng nồng độ năng lượng. Điều này có thể bù cho lượng thức ăn thấp hơn.
  • Lượng protein thô: Mất cân bằng các mẫu acid amin bị làm trầm trọng thêm sự tăng nhiệt gây ra do tiêu thụ protein bởi những chi phí năng lượng này có liên quan đến việc giữ nitơ kém và sự bài tiết nitơ. Do đó, giảm hàm lượng protein thô bằng cách sử dụng các acid amin cấp độ thức ăn có thể là một chiến lược hợp lý để đối phó với stress nhiệt.
  • Tăng sự cân bằng điện giải trong khẩu phần (DEB): Bị mất do tăng thở quá nhanh (gấp), có thể cung cấp thêm chất điện giải, chẳng hạn như natri và kali, để khôi phục DEB của gia cầm.
  • Nuôi dưỡng với các chất dinh dưỡng có hoạt tính sinh học đặc hiệu để xử lý các nhu cầu sinh lý cụ thể.

Công ty Mixscience đã phát triển giải pháp, beTaHit, bao gồm các thành phần hoạt tính sinh học đặc hiệu, được vectơ hóa với một ma trận chất béo. Ma trận chất béo đặc trưng này bảo vệ các thành phần theo thời gian để đảm bảo hiệu quả tối đa. Sản phẩm đã được thử nghiệm tại Trung tâm nghiên cứu Mixscience (MRC), trong một thiết kế thử nghiệm so sánh ba nhóm: đối chứng (khẩu phần không bổ sung), B1 (1000 g/T betaine HCl) và B2 (750 g/T beTaHit). Gà thịt Ross 308 được nuôi ở nhiệt độ cao, áp dụng mỗi ngày từ ngày 21 đến 35 (28 ˚C trong 6 giờ; 30 ˚C trong 4 giờ; 24 ˚C trong 12 giờ). Những gà được nuôi với sản phẩm này có FCR thấp hơn đáng kể, với lần lượt -0,03 điểm và -0,06 điểm so với khẩu phần đối chứng và khẩu phần B1 (Hình 1). Khẩu phần với beTaHit có năng suất thịt ức cao hơn các khẩu phần khác (+ 1,06% so với đối chứng, + 0,81% so với B1). So với đối chứng, chi phí sản xuất thịt ức đã giảm gần 2% khi cho ăn B1 và 6% khi cho ăn theo giải pháp này

Hình 1: Ảnh hưởng của việc bổ sung trong khẩu phần đến năng suất gà thịt lúc 35 ngày tuổi.

Trong thử nghiệm này, tính nhạy cảm stress thẩm thấu cũng được đánh giá bằng cách sử dụng điểm tan huyết. Điểm tan máu là nồng độ muối thấp nhất mà tại đó các tế bào hồng cầu bị dung giải khi đưa vào dung dịch nhược trương. Nồng độ càng ít, tế bào càng chịu được stress. Những gà được ăn bổ sung có điểm tan máu thấp hơn đáng kể so với mức đối chứng của chúng (-7%), do đó cho thấy khả năng đề kháng stress thẩm thấu được cải thiện.

Những lợi ích của sản phẩm này đã được xác nhận trong một thử nghiệm khác diễn ra tại Trường Thú y Dakar (EISMV) ở Sénégal. Gà con Cobb500 nhận được một trong những thức ăn sau từ 0 đến 42 ngày tuổi: đối chứng (đối chứng  âm, không phụ gia) hoặc khẩu phần có bổ sung (đối chứng + 750 g/T beTaHit). Nhiệt độ trong quá trình thử nghiệm là từ 22 °C đến 27,6 °C. Thể trọng của gà có bổ sung được cải thiện đáng kể sau 42 ngày so với nhóm đối chứng (2.476 g so với 2.321 g, P<0,05). nhóm được bổ sung có lượng ăn vào cao hơn (114,7 so với 113,5 g/ngày, P= "0,67") và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn tốt hơn so với nhóm đối chứng (2,03 so với 2,14, P<0,01). Với sự bổ sung (750 g/T), trọng lượng thịt ức cao hơn đáng kể và sản lượng thân thịt được tăng lên theo số lượng (Hình 2).

Hình 2: Ảnh hưởng của việc bổ sung trong khẩu phần đến năng suất gà thịt 42 ngày tuổi.

Kết luận

Các chiến lược dinh dưỡng khác nhau có thể được thực hiện trong một chương trình toàn diện nhằm điều chỉnh các tác động tiêu cực của stress nhiệt đến năng suất của gia cầm. Việc sử dụng các giải pháp dinh dưỡng đã được chứng minh là làm giảm bớt tác động bất lợi của nhiệt độ môi trường cao và cải thiện được năng suất gia cầm. Bổ sung BeTahit đã chứng minh hiệu quả của nó trong hoàn cảnh bị stress nhiệt với gia cầm, tăng trung bình mức tăng trọng 0,05 đến 0,07 điểm về hệ số FCR và lợi tức đầu tư (ROI) ít nhất là 3, tùy thuộc vào bối cảnh.

PGS Bùi Xuân Mến, Trung tâm RD Vemedim.

Tài liệu tham khảo

Dain, C.L. 2019.  Strategies to master heat stress in poultry.

https://www.poultryworld.net/Health/Articles/2019/4/Strategies-to-master-heat-stress-in-poultry-412494E/.

t g
0775 009 169
m