Đối tác marketing
VTV Youtube Bao Nguoi chan nuoi TH Ben Tre
KỸ THUẬT NUÔI TÔM CÔNG NGHỆ CAO (NUÔI TÔM HAI GIAI ĐOẠN)
KỸ THUẬT NUÔI TÔM CÔNG NGHỆ CAO  (NUÔI TÔM HAI GIAI ĐOẠN)
Cập nhật 2020-03-25 08:03:45

Tác giả: KS. Ngô Minh Luân - Vemedim Corporation

 

      Mô hình nuôi tôm thẻ siêu thâm canh 02 giai đoạn được áp dụng từ nhiều năm trước đã khẳng định mang lại hiệu quả kinh tế cao so với nuôi 01 giai đoạn.

      Giải pháp kỹ thuật này những năm gần đây được phát triển ở mức cao hơn, đặc biệt khi nghề nuôi tôm thẻ chân trắng phát triển đến mức thâm canh và siêu thâm canh mật độ cao, mục đích nhằm rút ngắn thời gian nuôi, nâng mật độ, năng suất, sản lượng, giảm thiểu rủi ro và chi phí.

      Mục đích của nuôi tôm hai giai đoạn là tăng sản lượng rất đáng kể (vì nuôi mật độ từ vài trăm đến ngàn con/m2; hạn chế dịch bệnh EMS; rút ngắn thời gian nuôi (ương và san thành nhiều ao); giảm chi phí, giá thành (nhiên liệu, vật tư đầu vào, nhân lực…); giảm áp lực về môi trường nước mặt ô nhiễm do thâm canh”

Giai đoạn 1- giai đoạn ương.

I/ Chuẩn bị hệ thống ao ương:

      Ao lắng thô: lấy nước từ mương cấp qua ống lọc có gắn túi lọc 02 lớp, dùng để trữ nước. Khi bơm nước vào, nước được xử lý bằng Vimekon với liều lượng 2ppm (2kg/1.000m3 nước, Vimekon được pha sẵn trong một cái bồn và được sã qua một ống nước nhỏ ø21 để diệt khuẩn làm trong nước, bên cạnh đó, nước cũng được xử lý bằng Cap 2000: 2ppm ( 2l/1.000m3 nước) được pha trong một cái bồn và được sã qua một ống nước nhỏ ø21 để làm lắng tụ các chất phù sa, hữu cơ và kết tủa kim loại nặng, giảm độ nhớt của nước. trong ao lắng thô có 3-4 dãy ngăn cách lớn, hai trong số các dãy đó được chia thành nhiều ô nhỏ.

Mục đích của việc chia thành nhiều ô nhỏ như sau:

- Một ô được thiết kế cho nước đi loàng ở phần đáy, một ô được thiết kế để nước chảy tràn qua và các ô này xen kẻ nhau.

- Nước được bơm mạnh tạo dòng chảy trôi ở đáy ao rôi lên trên mặt như những con sóng làm các vật chất lơ lửng thì thì không được chảy tràn qua ô kế bên, các kim loại nặng được lắng tụ dưới đáy ao thì không chảy qua được ô kế cạnh và được thiết kế nhiều ô sẽ làm nước sạch từ từ khi qua các dãy khác thì nước tương đối trong và sạch.

      Ao lắng thô được bố trí cạnh mương cấp nước; có độ sâu từ 2-3m (tùy điều kiện thổ nhưỡng) và diện tích chiếm khoảng 20% tổng diện tích khu nuôi. 

     

      Ao lắng sẵn sàng (áo lắng tinh): lấy nước từ ao lắng thô đã được xử lý qua ống lọc có gắn túi lọc 02 lớp, khi nước bơm qua từ ao lắng thô thì được xử lý bằng Chlorine 30ppm ( 30kg/1.000m3 nước) và được pha trong trong một cái bể và sã qua bằng một ống nước nhỏ ø21. Khi đó nếu còn sót lại ấu trùng tôm, cua, giáp xác thì ở ao lắng sẵn sàng đẫ xử lý triệt để… bảo đảm hạn chế tối đa các mầm bệnh từ nguồn nước cấp.

      Ao lắng sẵn sàng được bố trí cạnh ao lắng thô, được lót bạt (nếu có điều kiện), có diện tích và độ sâu như ao lắng thô, được đặt cạnh ao ương và ao nuôi để vận chuyển nước được thuận tiện.

 

 

 

Ao ương:

      Ao ương được bố trí cạnh ao lắng sẵn sàng; có độ sâu từ 1,2-1,5m (tùy điều kiện thổ nhưỡng); đáy ao được thiết kế bằng mặt bờ của ao nuôi; có hệ thống ống sang tôm, hệ thống oxy đáy, hệ thống quạt nước, hệ thống lưới che; được lót bạt đáy và bạt bờ; diện tích chiếm khoảng 5% tổng diện tích ao nuôi hoặc 10% của 01 ao nuôi.

      Ao ương được thiết kế hình chữ nhựt, hình vuông hay hình tròn tùy điều kiện của mỗi trại, và được thiết kế dạng ao nổi.

* Ưu điểm của nuôi tôm trên ao nổi: So với những ao nuôi tôm thẻ chân trắng với diện tích thông thường tử 2.000-5.000m 2 , ao nuôi tròn có diện tích nhỏ mang nhiều ưu điểm.

- Do diện tích ao nhỏ, nên việc thu gom chất thải vào giữa bằng tác động của máy quạt nước rất hiệu quả, việc loại bỏ chất thải ra khỏi ao được thực hiện dễ dàng nền đáy được kiểm soát trong suốt vụ nuôi, giảm thiểu bùng phát vi khuẩn có hại và khí độc.

- Quan trọng nhất là giảm thiểu tối đa chi phí sử dụng hóa chất xử lý môi trường. Do không mất nhiều thời gian cải tạo ao cũng như cho ao nghỉ nên mỗi năm có thể nuôi 3 vụ.

 

 

- Diện tích ao ương: từ 100m2-500m2, độ sâu 0,8-1m, ao được lót bạt có hố xi phông ở giữa và hệ thống oxy đáy, có máy che và rào lưới xung quanh để giảm nhiệt độ và ổn định môi trường nước, tảo được khống chế, không có nước mưa trong suốt quá trình ương.

-  Nước đã xử lý được 2-3 ngày từ ao sẵn sàng bơm qua ống lọc có gắn túi lọc 02 lớp  được bơm vào ao ương. Kiểm tra hàm lượng Chlorine trong ao ương không còn Chlorine nữa thì

-  Tiến hành gây màu tạo thức ăn tự nhiên và tảo:

+ Cách 1: có thể tạt trực tiếp Vime-Bitech hoặc Vime-Subtyl 300-500g/100m3-500m3 nước.

+ Cách 2: Vime-Bitech hoặc Vime-Subtyl 300-500g ủ với 2kg mật gỉ đường + 40l nước ao ương, rồi ủ khoảng 4-6h rồi tạt xuống ao ương đã được vận hành hệ thống oxy đáy, quạt và tạo dòng chảy.

- Sau đó, kiểm tra các yếu tố môi trường thật ổn định mới tiến hành thả giống.

 II/ Chọn giống:

1/Chọn con giống:

- Ở các Công ty hoặc các cơ sở có uy tín, nguồn gốc rõ ràng. Có thể chọn bằng cảm quan hoặc qua xét nghiệm.

- Tốt nhất là nên đi xét nghiệm để đảm bảo chất lượng, kiểm tra:  tôm không bị nhiễm các bệnh nguy hiểm như hoại tử gan tụy cấp tính (EMS), đốm trắng (WSSV), đầu vàng (YHV), virus làm cho tôm bị còi, không lớn (MBV, HPV), hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô (IHNV), EHP ( Vi bào tử trùng).

 

Các yêu cầu kỹ thuật để lựa chọn côn giống đạt chất lượng

 

 

2/Thả giống.

- Thả giống với mật độ 700-2.000Pl/m3 nước, chạy quạt trước khi thả giống khoảng 6 giờ để đảm bảo lượng ôxy hòa tan đạt 5 mg/l trở lên.

- Trước khi thả tôm 15 phút: dùng Vime-Yucca 100ml-500ml/bể ương tử 100-500m3 nước.

- Ngâm bao tôm trong ao ương khoảng 30 phút rồi thả, thả lúc sáng sớm hoặc chiều mát và theo hướng trên gió để tôm khỏe, tránh bị sốc.

 

III. Chăm sóc và quản lý.

1/Cho ăn: thức ăn tính trên 100.000 Pl12

      Cho ăn mỗi ngày 5 lần: sáng 6h30, 9h30, trưa 12h30, 15h30, chiều tối 18h30, mỗi cử cho ăn 40g, tổng 200g. 5 ngày đầu mỗi ngày tăng 100g, 5 ngày kế tiếp mỗi ngày tăng 200g. từ ngày 11-15, mỗi ngày tăng 300g. khi tôm ăn được thức ăn nổi số 2 thì trộn thêm:

- Sáng 6h30: Organic 5g+ Elecamin 5ml/kg thức ăn

- Sáng 9h30: Lactozyme 10g+ Betazyme 5g/kg thức ăn.

- Trưa: 12h30: Hepatic 5ml + Vitamin C Antistress 5g/kg thức ăn.

- Chiều 15h30: Vime-Aquazyme 5g + Vimekat 5ml/kg thức ăn.

- Tối: 6h30: Can-xi-phot 10ml+ Probisol 5g/kg thức ăn.

Lượng thức ăn hàng ngày theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

      Cuối mỗi ngày, nên kiểm tra lại lượng thức ăn trong ao ương có dư thừa không, nếu có rút sã đáy để đảm bảo nền đáy sạch không ảnh hưởng đến môi trường ao ương.

2/Quản lý môi trường và sức khỏe tôm nuôi.

- Kiểm tra pH, độ trong 2 lần/ngày vào lúc 7h và 15h, kiểm tra độ kiềm, NH3 ngày/lần để điều chỉnh cho phù hợp.

- Trong quá trình sinh trưởng, tôm cần rất nhiều khoáng, do đó nên duy trì độ kiềm 120 mg/l trở lên bằng cách sử dụng: 

  + Đối với ao <200m2: 1-15 ngày, mỗi ngày tạt 300-500g khoáng tạt, 15-25 ngày tuổi, mỗi ngày tạt 500-1000g khoáng tạt, cách 03 ngày/lần tạt thêm Elecamin 0,5/1.000m3 nước.

  + Đối với ao > 200m2 1-15 ngày, mỗi ngày tạt 500g-1.000g khoáng tạt, 15-25 ngày tuổi, mỗi ngày tạt 1000g-1.500g khoáng tạt, cách 03 ngày/lần tạt thêm Elecamin 0,7l/1.000m3 nước.

      Trong giai đoạn này, hàng ngày quan sát hoạt động bắt mồi và sức khỏe tôm trong ao, xem biểu hiện bên ngoài của tôm thông qua màu sắc, phụ bộ, thức ăn trong ruột… để có thể phát hiện sớm dấu hiệu bất thường.

- Nếu kiểm tra thấy tôm bị cong thân hay đục cơ thì bổ sung thêm: Kali 500g, Mg 200g( nếu kiểm tra thấy thiếu), Elecamin 0,3-0,5l.

- Định kỳ 7 – 10 ngày/lần cấy vi sinh để tăng cường mật độ vi khuẩn có lợi trong ao ương: Vime-Bitech hoặc Vime-Subtyl 300-500g ủ với 2kg mật gỉ đường + 40l nước ao ương rồi ủ khoảng 4-6h rồi tạt xuống ao ương.

- Khi cần chăm nước thêm thì lấy nước từ ao lắng đã xử lý Chlorine liều 30 kg/1.000 m3 ( kiểm tra hết dư lượng Chlorine) bơm vào ao ương (qua túi lọc).

 

 

II/ Giai đoạn II-Giai đoạn nuôi tôm thương phẩm.

2/Thiết kế hệ thống khu nuôi.

      Khu nuôi được thiết kế như hình 1, gồm: 01 ao lắng thô, 01 ao lắng tinh, 01 ao ương, 02 ao nuôi, 01 mương cấp nước, 01 mương xả nước, khu chứa nước thải và các công trình phụ trợ.

 


 Sơ đồ thiết kế hệ thống ao cho khu nuôi tôm có diện tích trên 1ha

 

- Diện tích mỗi ao nuôi 1.000- 2.000 m2/ao, độ sâu từ 1,2-1,6 m và bờ ao tối thiểu cao hơn mặt nước 0,5m. Ao nuôi có cống cấp, thoát nước riêng biệt, được lót bạt đáy và bờ chắc chắn.

- Ao chứa lắng để trữ nước và xử lý nước trước khi cấp cho các ao nuôi, diện tích bằng 50-70% diện tích khu ao nuôi.

- Quạt nước, máy thổi cung cấp khí đáy ao được bố trí hợp lý, tạo dòng chảy trong ao, đảm bảo lượng ôxy hòa tan trong nước luôn duy trì >4 mg/l.

 

2/ Kỹ thuật nuôi tôm thương phẩm.

- Chuẩn bị ao nuôi:

      Hệ thống quạt nước: được đặt cách bờ ao từ 1,5-2,0m; khoảng cách giữa 02 bộ cánh quạt từ 50-60cm, lá quạt giữa các bộ cánh quạt được lắp so le. Số lượng quạt phụ thuộc vào mật độ nuôi, chủng loại quạt.

 

 Bảng hướng dẫn sử dụng số lượng quạt cho ao nuôi (áp dụng cho ao nuôi có diện tích từ 2.000-3.000m2)

 

 

- Ao cũ: sau khi thu hoạch tôm xong, rút sạch nước, phơi ao khô 24h sau đó dùng Kill-Algae 2l/1.000m2 phun lên hết bạt ao nuôi để cho rong, tảo bám vào bạt bị tiêu diệt hêt, phơi khô 3-5 ngày.

- Ao mới và ao cũ: Tiến hành vệ sinh, khử trùng bạt bằng đá vôi Ca0 pha với nước tạt toàn bộ bạt lót, liều lượng 10-15kg/1.000m2.

 

 

- Sau khi vệ sinh xong, lấy nước từ ao lắng sẵn sàng (ao lắng tinh) qua ống lọc có gắn túi lọc 02 lớp, dùng để  nuôi tôm thương phẩm.

      Gây màu: Sau khi lấy nước đầy ao theo yêu cầu kỹ thuật thì tiến hành gây màu nước trước khi san tôm từ ao ương ra nuôi, dùng Vime-Bitech hoặc Vime-Subtyl: 1kg ủ với 5kg mật gỉ đường + 100 lít nước ao nuôi, rồi ủ khoảng 4-6h rồi tạt xuống ao nuôi đã được vận hành hệ thống oxy đáy, quạt và tạo dòng chảy.

      Sau khi ương được 25-30 ngày, tôm có trọng lượng khoảng 1gram được đưa vào ao nuôi tiếp giai đoạn 2.

Lưu ý: khi san tôm cần kiểm tra sức khỏe tôm kỹ càng, tôm khỏe mạnh, không đang chu kỳ lột xác, vỏ chắc khỏe, tôm không bị cong, đục thân khi nhấc sàn ăn lên. Trước khi san tôm, để tôm không bị sốc, hao đầu con nên dùng Anti-Shock 300-500g/ bể ương.

 

 

 

- Nước trong ao nuôi được chuẩn bị kỹ đảm bảo các chỉ tiêu môi trường nằm trong khoảng thích hợp và ổn định.

- Đặc biệt trước khi san tôm cần kiểm tra môi trường giữa ao ương và ao nuôi, các chỉ tiêu như pH, độ kiểm, nhiệt độ… chênh lệch không quá lớn tránh gây sốc cho tôm, ao nuôi khi san tôm dùng Anti-Shock 1-2kg/ 1.000m3 nước để tôm không bị sốc, ít hao đầu con.

- Mật độ nuôi tôm thịt: từ 100-300 con/m3 nước.

Có thể san tôm bằng nhiều cách:

- San tôm bằng cách mở cống, ống thông: giữa ao ương và ao nuôi có sự chênh lệch độ sâu nên khi mở cống hoặc ống thông nhau tôm sẽ được chuyển sang ao nuôi có diện tích lớn hơn để nuôi tiếp giai đoạn 2.

- San tôm bằng lưới kéo hoặc chài: san lúc trời mát và kéo dài trong vài ngày, thuận lợi trong phương pháp này là định lượng được số tôm san qua ao nuôi, có thể dùng 1 ao ương san cho nhiều ao nuôi. 

 

2/ Quản lý môi trường và sức khỏe tôm nuôi.

  a) Cho ăn:

- Khi chuyển tôm qua giai đoạn hai, cho tôm ăn hoàn toàn bằng máy tự động và điều chỉnh lượng thức ăn qua sàn ăn (01 ao 2.000 m2, bố trí 3 – 4 sàn ăn).

- Thức ăn: thức ăn công nghiệp dạng viên đã có tên trong Danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam;

- Thường xuyên kiểm tra sàn ăn (1 giờ/lần) để cài đặt thời gian cho ăn thích hợp tại máy cho ăn tự động.

- Mỗi ngày cho tôm ăn 04 lần vào các thời điểm:

  + Sáng 6-7h: Organic 5g+ Vimekat 5ml/kg thức ăn.

  + Sáng 10-11h: Probisol 5g+ Phylus 5g/kg thức ăn.

  + Trưa: 14h-15h: Hepatic 5ml + Elecamin 5ml/kg thức ăn.

  + Chiều 17-18h: Lactozyme 5g+ Canxiphot 5ml/kg thức ăn.

b) Quản lý môi trường ao nuôi:

- Kiểm tra pH, độ trong 2 lần/ngày vào lúc 7h và 15h, kiểm tra độ kiềm, NH3 ngày/lần để điều chỉnh cho phù hợp.

- Trong quá trình sinh trưởng, tôm cần rất nhiều khoáng, do đó nên duy trì độ kiềm 120 mg/l trở lên bằng cách sử dụng:

- Giai đoạn tôm nuôi từ: 25-45 ngày tuổi mỗi ngày tạt 3kg/1.000m3 nước.

Cách 03 ngày/lần tạt thêm Elecamin 1l/1.000m3 nước.

- Giai đoạn tôm nuôi từ: 45-60 ngày tuổi: mỗi ngày tạt 3-4kg/ 1.000m3 nước, cách 03 ngày/lần tạt thêm Elecamin 2l/1.000m3 nước.

- Giai đoạn tôm nuôi 61-90 ngày tuổi: cách ngày tạt 4kg/1.000m3 nước.

Lưu ý: Giai đoạn từ 45-90 ngày tuổi chu kỳ lột của tôm cách nhau từ 8-9 ngày nhưng do tôm lột không đồng nhất:

- Ngày thứ 01: ngày bắt đầu lột thì tôm lột được khoảng 15-20%.

- Ngày thứ 02: tôm lột khoảng 20-30%.

- Ngày thứ 03: tôm lột khoảng 40-50%.

- Ngày thứ 04: tôm lột khoảng 15-20%.

- Ngày thứ 05: số tôm còn sót lại sẽ lột gần hết.

Do đó, cần bổ sung khoáng đầy đủ cho tôm.

* Tôm bị đục thân, cong thân:

      Khoáng tạt 4 kg/1.000m3 nước kết hợp với 2l Elecamin liên tục đến khi kiểm tra thấy hết bị cong thân, đục cơ thì ngưng tạt, sau đó, khoáng tạt sử dụng theo hướng dẫn trên.

- Định kỳ 7 – 10 ngày/lần cấy vi sinh để tăng cường mật độ vi khuẩn có lợi trong ao nuôi: Vime-Bitech 1kg ủ với 3-5kg mật gỉ đường + 60-100l nước sạch rồi ủ khoảng 4-6h rồi tạt xuống ao nuôi hoặc Pond VS: 2l/1.000m3 nước

- Khi cần chăm nước thêm thì lấy nước từ ao lắng đã xử lý Chlorine liều 30 kg/1.000 m3 ( kiểm tra hết dư lượng Chlorine) bơm vào ao ương (qua túi lọc).

 
 

c) Thu hoạch và bảo quản:

      Khi tôm đạt kích cỡ 100 con/kg có thể thu tỉa hoặc san thưa với mật độ nuôi còn lại là dưới 100 con/m3 nước, để có thể nuôi tôm về size lớn hơn đạt kích cỡ thương phẩm 20-30 con/kg.

- Chuẩn bị thu hoạch:

      Trước khi quyết định thu hoạch cần thống nhất giá cả và thời gian giao nhận sản phẩm với cơ sở thu mua. Các dụng cụ phục vụ thu hoạch (lưới, vợt, rổ đựng, đòn khênh...) phải đầy đủ và đang trong tình trạng hoạt động tốt.

      Chọn thời điểm tôm có giá tốt khi tôm đạt kích cỡ để thu hoạch. Trước khi thu hoạch theo dõi chu kỳ lột xác của tôm, tránh thu tôm khi đang trong chu kỳ lột xác.

- Thu hoạch và bảo quản:

      Thu hoạch và vận chuyển tôm vào thời điểm trời mát (sáng sớm hoặc chiều mát); tránh làm tôm bị dập nát; bảo quản lạnh và thời gian vân chuyển đến nơi sơ chế, chế biến đảm bảo yêu cầu.

      Người thu hoạch phải thực hiện vệ sinh cá nhân đúng quy định trước khi tham gia vào hoạt động thu hoạch, vận chuyển tôm thương phẩm.

      Các dụng cụ thu hoạch, phương tiện vận chuyển chuyên dùng phải được vệ sinh khử trùng trước và sau khi sử dụng.

 

BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

 

I. Bệnh chậm lớn do vi bào tử trùng trên tôm.

1/ Mầm bệnh:

- Do vi bào tử trùng Enterocytozoon Hepatopenaei (EHP), thuộc nhóm ký sinh trùng.

- Vi bào tử trùng thường được tìm thấy trong nguồn nước ao nuôi, xâm nhập vào gan,tụy của tôm.

- Khi tôm bị stress do môi trường ao nuôi xấu hoặc thời tiết biến động nhiều, vi bào tử sẽ tấn công gan, tụy làm tôm mắc bệnh chậm lớn. Sau đó bệnh lây truyền dần sang các tôm khác trong ao khiến cả ao tôm đều mắc bệnh.

2/ Cách lây truyền:

- Lây từ tôm bố, mẹ ở trại giống: tôm bố, mẹ nhiễm bệnh do thức ăn( giun nhiều tơ, hào, nghêu..) chứa ký sinh trùng EHP. Từ đó lây qua tôm giống (post).

- Mầm bệnh có trong ao nuôi lây qua tôm sau khi thả nuôi:

  + Do khâu chuẩn bị ao không kỹ.

  + Vi bào tử trùng đề kháng rất mạnh với thuốc sát trùng thông thường.

Chỉ bị diệt khi dùng Chlorine ở mức 100ppm.

* Phương pháp diệt vi bào tử trùng trong nước bằng Chlorine là duy trì liên tục hàm lượng Chlorine ( hoạt chất, thường khoảng 79%) 20mg/l trong suốt 12.75 giờ.

Ví dụ: hàm lượng chlorine hoạt chất yêu cầu là 15.300mg/l-phút, nếu hàm lượng hoạt chất cho nước cần xử lý là 25ppm hay 25mg/l. Ta lấy 15.300;25= 612 phút- là thời gian cần duy trì hay là 10,2 giờ. Lưu ý đây là lượng hoạt chất chlorine, do đó lượng chlorine phải sử dụng để có 25ppm hoạt chất trong nước cần là 25/0,75=33,3mg/l hay 33,3kg/1.000m3 nước (giả sử Chlorine có 75% hoạt chất)

- Do đó cần duy trì cần duy trì liều lượng chlorine trong khoảng thời gian đủ lâu để có thể diệt vi bào tử trùng như mong muốn.

Điều này yêu cầu chúng ta phải đo hàm lượng chlorine trong môi trường xử lý và bổ sung thêm nhiều lần nếu cần để duy trì hàm lượng chlorine nà

- Nếu hàm lương Chlorine thực tế cao hơn 25ppm thì thời gian ngắn hơn. Có thể tính theo công thức: hàm lượng hoạt chất chlorine ( mg/l) x thời gian duy trì ( phút): pH=7,5 hoặc thấp hơn sẽ cho hiệu quả cao hơn.

Nếu nước nước có hàm lượng chất hữu cơ cao sẽ phải sử dụng hàm lượng Chlorine nhiều hơn.

3/ Triệu chứng:

- Tôm sau thả nuôi 20 ngày trở lên rất chậm lớn. Sau khi tôm đạt trọng lượng 3-4 g/con, tôm chậm lớn dần rồi có thể dừng lớn hẳn.

- Tôm nuôi 90-100 ngày tuổi vẫn có thể chỉ đạt cỡ 4-5g/con.

4/ Chuẩn đoán bệnh:

- Dựa vào triệu chứng tôm không lớn sau khi thả nuôi 20 ngày.

- Gởi mẫu đến phòng thí nghiệm kiểm tra:

  + Dùng phương pháp nested PCR và phương pháp LAMP.

Phương pháp này chính xác nhưng khá đắt tiền.

  + Phương pháp nhuộm màu tiêu bản vi thể: Phương pháp này khó thực hiện do bào tử kích thước nhỏ hơn 1 micron, nên chỉ quan sát được rất ít mặc dù mẫu bị nhiễm cường độ nặng, độ chính xác không cao.

 

 

5/ Kiểm soát dịch bệnh:

 a) Đối với trại tôm giống:

- Tôm bố, mẹ sạch bệnh và không nhiễm EHP.

-  Trước khi đưa vào cho sinh sản phải kiểm tra tôm bố mẹ, ( mẫu phân) bằng phướng pháp nested PCR, nếu âm tính mới sử dụng.

- Không sử dụng động vật sống( ví dụ như: giun nhiểu tơ sống, nghêu, sò,..) để làm thức ăn cho tôm bố, mẹ.

- Nếu sử dụng động vật sống làm thức ăn cho tôm:

  + Nên đông lạnh trước khi cho tôm ăn.

  + Sau khi đông lạnh phải sấy nhiệt độ 70oC trong 10 phút để diệt các loại virus ( đông lạnh lâu không thể diệt virus)

  + Hoặc sau khi đông lạnh, chiếu xạ tia gamma để diệt mầm bệnh.

 b) Trường hợp trại tôm giống nhiễm EHP:

- Tất cả tôm phải được loại bỏ từ các trại sản xuất giống.

- Tất cả các thiết bị, vật dụng ( các bộ lọc, bể chứa nước, ống nước, dây sục khí,.. trong trại phải được tiệt trùng bằng dung dịch sút 2,5% ( NaOH 25g/l nước ngọt). Trong 3 giờ, sau đó rửa sạch lại.

- Sauk hi tiệt trùng toàn bộ trang trại phải được phơi nắng hoặc làm khô trong 7 ngày.

- Sao đó, toàn bộ nền (sàn) trang trại được rửa lại bằng dung dịch chlorine 200ppm.

 c) Đối với người nuôi tôm:

- Xét nghiệm PCR tôm post đối với các bệnh: EMS, Đốm Trắng, EHP…

- Chuẩn bị ao nuôi thật kỹ sau vụ nuôi, đặc biệt khi vụ trước đã xuất hiên EHP.

- Do bào tử của EHP có vỏ dày, Chlorine với hàm lượng cao cũng không diệt được bào tử EHP do đó nên xử lý bằng vôi sống trong quá trình cải tạo ao trước khi thả.

 6) Dùng vôi để diệt bào tử EHP:

- Dọn sạch bùn bã trong ao.

- Phơi ao cho khô (10-15 ngày).

- Cày xới sâu khoảng 10-12 cm.

- Bón vôi CaO khắp đáy ao, liều 6 tấn/ha.

- Sau đó, phơi ao thêm 1 tuần trước khi lấy nước.

- Sau khi dùng vôi CaO, pH đất sẽ tăng lên rất cao ( có khi >12), sau vài ngày pH sẽ trở lại bình thường khi nó hấp thu CO2 và trở thành dạng CaCO3.

- Định kỳ dùng chế phẩm sinh học:

  + Pond max: 1kg/ 4.000-5.000 m3 nước.

  + Hoặc Vime-Bitech 1kg/2.000m3 nước.

  + Hoặc Pond Vs 2l/1.000m3 nước.

Để cải tạo môi trường ao nuôi tốt.

7/ Biện pháp xử lý khi bệnh xảy ra:

- Diệt sạch tôm bệnh.

- Xử lý nước ao bằng vôi sống CaO.

- Tháo cạn nước và chuẩn bị ao nuôi từ đầu.

 

II. Hội chứng tôm chết sớm EMS.

      Bệnh tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome - EMS) cũng  còn  gọi  là  chứng  hoại  tử  gan - tụy cấp (Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome  AHPNS) là bệnh thiệt hại nghiêm trọng cho tôm nuôi tại Việt Nam (cả tôm thẻ chân trắng lẩn tôm sú),dù là nuôi thâm canh hay bán thâm canh.

      Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Trung Quốc năm 2009, tại Việt Nam năm 2010, ở Malaysia và Thái Lan năm 2011 và ở Mexico năm 2013.

      Năm 2010, Phòng nghiên cứu Bệnh học Thuỷ sản, Trường Đại học Arizona (Phòng nghiên cứu của GS. Donald Lightner - UAZ-AP) nghiên cứu và chỉ rõ  nguyên nhân gây bệnh.

Nguyên nhân:

      Bệnh do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. Vi khuẩn này đã bị nhiễm bởi một loại thể thực khuẩn làm cho chúng sinh ra một loại độc tố cực mạnh.

      Vi khuẩn được lây truyền qua đường miệng, sau đó chúng xâm nhập vào đường tiêu hóa của tôm, tạo ra độc tố gây phá hủy mô và làm rối loạn chức năng của gan tụy, cơ quan tiêu hóa tôm. 

      Đây là nguyên nhân làm tôm chết sớm trong vòng 30 ngày đầu tiên sau khi thả, tỷ lệ tôm chết có thể lên tới trên 70%.

1/ Dấu hiệu nhận biết và nguyên nhân bệnh hoại tử gan tụy.

      Ban đầu, triệu chứng của bệnh không rõ ràng, tôm chậm lớn, bơi lờ đờ, bỏ ăn, tấp mé và rớt đáy. Sau đó tôm bệnh bị mềm vỏ, màu sắc tôm thay đổi, gan tụy mềm nhũn, teo lại hoặc sưng to. 

Gan tụy - ruột tôm khỏe (A) và gan tụy - ruột tôm bệnh EMS (B) (hình 1) , gan tôm bị nhạt màu (hình 2)

 

      Và trong quá trình nuôi, tôm bị nhiễm bệnh chia làm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Tôm chết dưới 35 ngày tuổi (có thể do con giống kém chất lượng nhiễm sẵn bệnh từ trại giống)

- Giai đoạn 2: Tôm chết ở 35 – 60 ngày tuổi, tôm nhiễm bệnh do quản lý môi trường không tốt khiến ao xuất hiện các hiện tượng sau và dễ dẫn đến bệnh hoại tử gan tụy cấp tính:

 

 

  + Tôm bị bệnh đường ruột đặc biệt là tôm bị đi phân trắng, phân lỏng nhiều ngày.

  + Khí độc trong ao nhiều.

  + Tảo độc ở trong ao hiện diện và phát triển nhiều.

  + Thời tiết thay đổi đột ngột, pH trong ao thấp hoặc dao động trong ngày quá 0,5.

  + Hiện tượng phát sáng trong ao.

  + Ao ít diệt khuẩn hoặc sử dụng hóa chất kháng sinh nhiều trong quá trình nuôi.

2/ Biện pháp phòng bệnh hoại tử gan tụy

Để phòng chống, cần áp dụng các biện pháp tổng hợp:

- Chọn post chất lượng, từ các thương hiệu uy tín trên thị trường. 

- Đảm bảo tôm và môi trường, nguồn nước, dụng cụ, thiết bị trong trại giống phải sạch khuẩn.

- Chuẩn bị và sát trùng ao cẩn thận trước khi thả nuôi: sên vét đáy ao, phơi nắng đáy ao (nếu có thể), sát trùng đáy ao. Xử lý diệt khuẩn nước vào thật cẩn thận.

- Sử dụng thức ăn đảm bảo chất lượng, thức ăn không nhiễm nấm.

- Quản lý môi trường ao nuôi tốt.

 - Hạn chế dùng các hóa chất, kháng sinh. 

- Loại bỏ các chất gây độc cho gan tụy tôm như các ion kim loại nặng

3/Biện pháp điều trị bệnh hoại tử gan tụy.

Khi phát hiện bệnh, bà con tiến hành xử lý như sau:

- Tích cực thay nước khi tôm có dấu hiệu bệnh, nếu tảo phát triển mạnh thì dùng Kill-Algae 1l/1.000m3 nước hoặc Vime-parasite 1l/1.000m3 nước giảm tảo.

- Giảm thức ăn còn khoảng 75%.

- Tăng cường chạy quạt kết hợp với chạy Oxy đáy.

- Vệ sinh ao: xiphon,vớt tôm chết ra khỏi ao.

- Trộn vào trong thức ăn:

  + Sáng: Vime-FDP 5ml/kg hoặc Cefocin plus 5g/kg thức ăn, cho ăn liên tục từ 5-7 ngày.

  + Trưa: Vime-Clean 5g/kg thức ăn ( cho ăn liên tục 3 ngày rồi ngưng) chuyển sang dùng Lactozyme 10g/kg thức ăn.

  + Trưa-chiều: Vime-FDP 5ml/kg hoặc Cefocin plus 5g/kg  thức ăn, cho ăn liên tục từ 5-7 ngày.

  + Chiều: Organic 10g/kg thức ăn.

Cho ăn liên tục 5 ngày, thấy tôm giảm chết trên 90% thì ngưng không sử dụng thuốc. Sau đó bổ sung các sản phẩm vi sinh đường ruột, premix và khoáng chất cho tôm như:

  + Sáng: Lactozyme 10g/kg thức ăn.

  + Trưa: Canxiphot 7-10ml/kg thức ăn .

  + Trua-chiều: Organic 10g/kg thức ăn.

  + Chiều:  Vimekat 10ml/kg thức ăn.

- Định kỳ 5-7 ngày diệt khuẩn bằng một trong các sản phẩm: Vimekon, Vime-Paracide, Protectol.

- Sau 48-72 giờ kết hợp sử dụng các chế phẩm sinh học để ổn định môi trường nước ao nuôi:

- Sử dụng men vi sinh cải thiện môi trường, hấp thu khí độc, xử lý nền đáy bằng cách dùng một trong các sản phẩm sau:

  + Pond max: 1kg/5.000m3 nước.

  + Aqua-Bacillus 1kg/3.000 m3 nước

  + Pond Vs 2l/1.000m3 nước.

Định kỳ: 5-7 ngày/lần.

III/ Bệnh phân trắng.

      Bệnh phân trắng không phải là bệnh nguy hiểm như bệnh đốm trắng hay bệnh hội chứng chết sớm EMS, cung ít lan rộng thành dịch, nhưng làm giảm năng suất và thiệt hại cho người nuôi tôm. Bệnh thường xảy ra ở tất cả các giai đoạn của tôm từ 30 ngày tuổi trở lên.

      Bệnh thường xuất hiện trong mùa nắng nóng, nhiệt độ nước cao hoặc nuôi mật độ cao ≥ 100 con/m2.

1/ Triệu chứng bệnh:

- Xuất hiện phân tôm màu trắng đục trên sàn ăn, nổi trên mặt nước, dọc bờ ao, góc ao ( cuối hướng quạt nước và cuối hướng gió), có khi phân còn dính ở phân tôm bị bệnh.

- Tôm bị ốp vỏ, vỏ mỏng, teo nhỏ dần.

- Tôm chậm lớn.

- Quan sát kỹ đường ruột của tôm sẽ thấy ống ruột bị đứt quãng hoặc trống rỗng, khi bóp nhẹ thấy phân tôm có thể di chuyển lên xuống trong ống ruột của tôm, nhất là ở phần cuối ruột, ở giai đoạn này tôm có thể giảm ăn nhanh và nếu không có biện pháp xử lý kịp thời tôm có thể bỏ ăn hoàn toàn chỉ trong vòng vài ngày và bắt đầu xuất hiện tôm chết trong ao.

 

 

2/ Nguyên nhân: 

Có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu cho rằng bệnh do nhiều tác nhân gây nên:

- Nhóm vi rút: đã phát hiện sự có mặt của MBV và HPV trên các mẫu tôm bệnh.

- Nhóm vi khuẩn: phát hiện có nhóm Vibrio gây hoại tử gan tụy (V.Proteolyticus; V.AlginolyticusV.harveyi).

- Nhóm ký sinh trùng: trùng loa kèn, trùng hai tế bào Gregarine gây tổn thương thành ruột, dạ dày tạo điều kiện cho nhóm vi khuẩn Vibrio gây hoại tử thành ruột tạo nên các đốm trắng hay vàng nhạt trên thành ruột.

 

 Hình trùng hai tế bào Gregarine

 

- Nhóm tảo lam: xuất hiện ở những ao có điều kiện môi trường nuôi xấu.

      Môi trường nước ao nuôi với mật độ cao (≥ 100con/m2) nhưng không thay nước thì lúc thời tiết nắng nóng làm tảo phát triển mạnh cũng là một trong những điều kiện lầm bệnh phát triển.

      Một số tác giả cho rằng thành ruột tôm bị bệnh có màu vàng nhạt có liên quan đến sự xuất huyết ruột ở tôm và hiện tượng này do các chất độc của tảo gây ra.

      Khi tôm ăn phải tảo độc thì các chất độc này sẽ phá vỡ lớp tế bào ngoài của thành ruột và manh tràng của tôm gây nên các vết viêm nặng, nếu bội nhiễm vi khuẩn Vibrio sẽ có thể gây chết tôm.

 3/ Truyền lây:

- Bệnh không phát triển tràn lan mà chỉ phát thành từng vùng.

- Bệnh thường gặp ở những ao nuôi mật độ dày mà không hoặc ít thay nước.

- Bệnh xuất hiện ở những ao ít thay nước kết hợp khi có sự thay đổi của thời tiết.

- Ở trại giống thì có thể do sự trộn lẫn thức ăn tươi( các loài ốc, hến...) trong thức ăn cho tôm bố mẹ hay nhiễm trực tiếp từ tôm bố mẹ.

- Tại ao nuôi thì bệnh có thể xuất hiện từ khi thả tôm cho đến trước khi thu hoạch do tôm giống bị nhiễm bệnh hoặc do các vật chủ trung gian truyền bệnh.

- Những vùng nuôi đã có xuất hiện bệnh thì cũng dễ bị mắc bệnh vào vụ sau hơn ở những vùng không bị mắc bệnh. Những ao có thời gian cải tạo ngắn, cải tạo không kỹ cũng dễ bị mắc bệnh hơn những ao cải tạo đúng kỹ thuật.

4/ Phòng ngừa:

- Kiểm tra giống trước khi đưa vào nuôi để tráng mang mầm bệnh vào ao, nếu có điều kiện nên kiểm tra thêm chỉ tiêu nguyên sinh động vật Gregarine  trong ruột tôm giống trước khi thả nuôi.

- Nên thả tôm với mật độ thích hợp (60-80 con/m2).

- Xử lý và chuẩn bị ao nuôi kỹ. Thời gian phơi đáy ao từ 7-10 ngày. Những ao đã có xuất hiện bệnh thiw cần có thời gian cải tạo và cho ao nghỉ dài.

- Cần phải quản lý môi trường ao nuôi thật tốt, luôn giữ pH ổn định và không biến động giữ sáng và trưa trên 0,5 độ. Thay nước ao định kỳ( từ ao lắng hoặc nước đã được xử lý kỹ)

- Kiểm soát không để tảo phát triển quá nhiều (mật độ tảo quá dày).

- Quản lý thức ăn tốt để tránh thức ăn dư thừa làm xấu môi trường nước, hạn chế hoặc không sử dụng thức ăn tươi sống như: nghêu, sò, cá… vì đây là biện pháp quan trọng nhằm hạn chế sự xuất hiện và lây lan của bệnh.

- Theo dõi tôm trong vó thường xuyên.

* Đối với chuẩn bị ao nuôi:

- Cải tạo sạch và nạo vét các chất dơ ra khỏi ao.

- Diệt khuẩn, vật chủ trung gian trong ao và nước bằng các sản phẩm như:

  + Vimekon: 1kg/1.500m3.

  + Protectol: 1lít/1.000-2.000m3.

- Tôm chết phải được vớt ra khỏi ao.

* Quản lý ao nuôi và nước trong quá trình nuôi:

- Sử dụng men vi sinh để cải tạo nước và ao nuôi như: Pond-max 1kg/5.000m3  nước hoặc Vime-Bacillus 1kg/2.000m3 nước.

- Trộn men vi sinh đường ruột vào thức ăn như: Lactozyme 10g/kg thức ăn

- Bổ sung chất tạo kháng thể bằng cách dùng Vime-Glucan.

- Bổ sung chất dinh dưỡng và tăng cường sức đề kháng cho tôm khi môi trường, thời tiết thay đổi nên sử dụnh: Vimekat, Betazyme, Elecamin, Vitamin C Antistress...

5/ Điều trị:

- Tích cực thay nước khi tôm có dấu hiệu bệnh, nếu tảo phát triển mạnh thì dùng Kill-Algae 1l/1.000m3 nước hoặc Vime-parasite 1l/1.000m3 nước giảm tảo.

- Trộn vào trong thức ăn:

  + Sáng: Vime-FDP 5ml/kg hoặc Fosfomycin 5g/kg thức ăn, cho ăn liên tục từ 5-7 ngày.

  + Trưa: Vime-Clean 5g/kg thức ăn ( cho ăn liên tục 3 ngày rồi ngưng) chuyển sang dùng Lactozyme 10g/kg thức ăn.

  + Trua-chiều: Vime-FDP 5ml/kg hoặc Fosfomycin 5g/kg thức ăn, cho ăn liên tục từ 5-7 ngày

  + Chiều: Organic 10g/kg thức ăn.

Cho ăn liên tục 5 ngày, thấy tôm giảm phân trắng trên 90% thì ngưng không sử dụng thuốc. Sau đó bổ sung các sản phẩm vi sinh đường ruột, premix và khoáng chất cho tôm như:

  + Sáng: Lactozyme 10g/kg thức ăn.

  + Trưa: Canxiphot 7-10ml/kg thức ăn .

  + Trua-chiều: Organic 10g/kg thức ăn.

  + Chiều:  Vimekat 10ml/kg thức ăn.

- Định kỳ 5-7 ngày diệt khuẩn bằng một trong các sản phẩm: Vimekon, Vime-Paracide, Protectol.

- Sau 48-72 giờ kết hợp sử dụng các chế phẩm sinh học để ổn định môi trường nước ao nuôi:

- Sử dụng men vi sinh cải thiện môi trường, hấp thu khí độc, xử lý nền đáy bằng cách dùng một trong các sản phẩm sau:

  + Bacillus Complex: 1kg/5.000m3 nước.

  + Aqua-Bacillus 1kg/3.000 m3 nước

  + Pond Vs 2l/1.000m3 nước.

Định kỳ: 5-7 ngày/lần.

IV/ Đường ruột tôm bị đứt khúc- dấu hiệu của bệnh đường ruột

      Trong nuôi tôm thâm canh, hiện tượng đường ruột tôm bị đứt khúc khá phổ biến, đây là một trong những dấu hiệu có thể quan sát bằng mắt thường  của bệnh đường ruột.  Một số  thông tin được trình bày tóm lược dưới đây có thể hữu ích cho người nuôi tôm khi gặp trường hợp trên.

1/ Nguyên nhân

  * Ruột tôm bị đứt khúc có thể do các nguyên nhân sau:

- Do nhiễm khuẩn Vibrio spp: Vibrio spp hiện diện phổ biến trong  nước ao nuôi tôm nước lợ, nước mặn.

      Khi môi trường nuôi tốt thì  Vibrio spp hiện diện ở mật   độ thấp (≤102CFU/ml) không gây bệnh cho tôm.  Khi môi trường nuôi ô nhiễm,  vi khuẩn sẽ gia tăng mật số và   xâm nhập cơ thể gây bệnh  cho tôm.

      Hầu hết các chủng vibrios đều có khả năng gây bệnh đường ruột, khi vào đường ruột  vi khuẩn  gây viêm và phá hủy thành ruột, do vậy  ta sẽ thấy những đoạn đứt khúc khi quan sát dưới ánh mặt trời.

      Các nghiên cứu gần đây còn xác định loài Vibrio parahaemolyticus nhiễm thực khuẩn thể (phage) trở thành dạng có độc tính cao là tác nhân gây bệnh EMS (Early Mortality Syndrome, Hội chứng  chết sớm ở tôm)

- Do nhiễm ký sinh trùng Gregarine:   Gregarine  là một loài nguyên sinh động vật  có vòng đời  phát triển  trong ký chủ trung gian là ốc, hến, ở đáy  ao tôm.

      Khi tôm ăn các ký chủ trung gian này, ấu trùng sẽ  xâm nhập vào ruột tôm, phát triển thành dạng trưởng thành sống ký sinh bám vào  đường ruột tôm. Khi mật số Gregarine dày đặc sẽ  làm cho ruột tôm bị tắt nghẽn.

      Tôm nhiễm ký sinh trùng Gregarine chết không đáng kể nhưng sẽ chậm lớn (do sự hấp thu dưỡng chất ở ruột  bị gián đoạn) và hình những tổn thương ở đường ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn vibrio xâm nhập phát triển gây bệnh. 

- Dinh dưỡng: Do  tôm ăn thức ăn bị nhiễm nấm mốc hoặc ăn phải tảo độc trong ao. Khi đó ruột tôm bị tác động bởi độc tố nấm mốc từ thức ăn hoặc các enzyme do tảo độc tiết ra (ví dụ như tảo lam) sẽ gây độc cho tôm,  sự tiêu  hóa dưỡng chất bị đình trệ, tôm thể hiện phân trắng, đường ruột đứt khúc.

 

 

 

2/ Điều trị:

      Để việc điều trị có hiệu quả cần xác định được tác nhân gây bệnh để điều trị. Trường hợp tôm bệnh do nhiễm cùng lúc nhiều tác nhân gây bệnh thì phải áp dụng biện pháp tổng hợp sau:

 a) Diệt  khuẩn Vibrio spp trong môi trường ao nuôi:

- Sử dụng thuốc sát trùng nước để  làm  giảm mật số vibrio trong nước ao nuôi: sử dụng một trong các sản phẩm sau

  +  Vime-parasite 1l/1.000 m3 nước.

  + Vimekon: 1kg/1.500-2.000 m3 nước.

  + Protectol: 1l/2.000m3 nước.

Thường các loại thuốc sát trùng không khả năng diệt hết các loại mầm bệnh trong nước ao nuôi (vì để đạt nồng độ này thì không sinh vật nào trong ao có thể tồn tại) mà mục đích của sát trùng nước ao nuôi chỉ nhằm mục đích giảm bớt vi khuẩn gây bệnh trong ao nuôi. Đối với Vibrio spp, đưa mật số vi khuẩn về <1000 vi khuẩn/ml nước (103CFU/ml) là đạt yêu cầu.  

2/ Cắt tảo: Nếu thấy nước ao có nhiều tảo độc phát triển (ví dụ như tảo lam) thì cần có biện pháp cắt tảo phù hợp. Có thể dùng 2 phương pháp cắt tảo là  

 -  Vi sinh: sử dụng một trong các sản phẩm sau:

  + Pond max: 1kg/4.000-5.000 m3 nước.

  + Vime-Bacillus: 1kg/1.500-2.000m3 nước.

  + Bacillus complex: 1kg/3.000m3 nước.

Cách sử dụng: 1kg vi sinh ủ với 3-5 kg mật gỉ đường+ 60-100 lít nước sạch, ủ khoảng 4-6 giờ, sử dụng lúc 9-10 giờ tối.         

- Hóa chất: sử dụng một trong các sản phẩm sau:

  + Kill-Algae 1l/1.000m3 nước. sử dung trong trường hợp tảo quá dầy, làm suy giảm oxy nghiêm trọng  cần xử lý nhanh. Ngoài tác dụng cắt tảo, Kill-Algae  có tác dụng diệt ốc, hến trong ao (là ký chủ trung gian của  Gregarine. 

Khi  sử dụng Kill-Algae cần kiểm tra độ kiềm nước ao nuôi để có liều lượng sử dụng phù hợp, độ kiềm nước ao cao thì lượng Kill-Algae phải gia tăng một cách tương ứng mới có tác dụng, ngược lại độ kiềm thấp, Kill-Algae dễ gây độc cho tôm nuôi, cần phải giảm liều.

  + Vime-parasite 1l/1.000 m3 nước.

  + BKC 80%: 1l/2.000 m3 nước.

3/ Tăng sức đề kháng và diệt mầm bệnh trong đường ruột:

- Vime-Glucan: 5g/kg thưc săn.

- Lactozyme:    5g/kg thưc ăn.

- Organic:         5g/kg thức ăn.

- Vimekat:        5ml/kg thức ăn. 

V/ Bệnh hoại tử cơ ở tôm thẻ chân trắng infectious myonecrosis vius-IMNV

1/ Nguyên nhân:

      Bệnh hoại tử cơ là một bệnh truyền nhiễm do tác nhân vi rút gây ra (infectious myonecrosis virus – IMNV). Đây là một trong những bệnh vi rút trên tôm được phát hiện trong thời gian gần đây nhất. Năm 2002, bệnh xảy ra lần đầu tiên ở các ao nuôi tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei miền Đông Bắc Braxin.

     Sau đó, bệnh lây lan sang các nước khác thuộc khu vực Châu Á như Indonesia, Thái Lan và tỉnh Hải Nam, Trung Quốc. Quá trình lây lan của IMNV qua các châu lục khác nhau được ghi nhận là do sự nhập chuyển của tôm bố mẹ P. vannamei.

2/ Triệu chứng:

      Tôm thẻ chân trắng được ghi nhận là vật chủ chính của IMNV do khả năng gây tỉ lệ chết cao ở loài tôm này. IMNV thường gây tỉ lệ chết cho tôm thẻ chân trắng trong khoảng từ 40 cho đến 70% quần đàn.

      Tuy nhiên, trong các vùng nuôi tôm thẻ chân trắng có xảy ra dịch bệnh thì tỉ lệ chết do IMNV có thể lên đến 100%. Trong điều kiện phòng thí nghiệm đã cho thấy IMNV có khả năng cảm nhiễm với hai loài tôm, tôm xanh Nam Mỹ (Penaeusstylirostris) và tôm sú (Penaeus monodon).

      Nhiệt độ và nồng độ muối được xem là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến quá trình bộc phát của bệnh hoại tử cơ. 

 

 

VI/ Bệnh đốm trắng do virus (WSSV).

      Tác nhân gây bệnh là do White Spot Syndrome Virus (WSSV) gây ra.

      Bệnh WSSV lây truyền theo các con đường: từ tôm bố mẹ sang con và từ môi trường ao nuôi lây nhiễm, tuy nhiên nó có lây lan từ nguồn nước lấy vào hay thông các loài giáp xác hoang dã.

      Tôm nhiễm WSSV thường có những biểu hiện như: dạt bờ, kém ăn, bơi yếu và xuất hiện các đốm trắng có vòng tròn đồng tâm đường kính từ 0,5-2mm trên vỏ kitin, tập trung nhiều ở giáp đầu ngực. Sau 5 – 7 ngày nhiễm bệnh tôm bị chết ồ ạt từ 70 đến 90% và có thể lên đến 100%.

      Trong đó lây truyền qua đường ao nuôi ô nhiễm là chính. Virus lây từ các giáp xác khác (tôm, cua, chân chèo) nhiễm bệnh đốm trắng từ môi trường bên ngoài ao hoặc ngay trong ao nuôi tôm.

      Khi các loài tôm bị bệnh đốm trắng trong ao, sức khỏe chúng yếu hoặc chết các con tôm khỏe đã ăn chúng dẫn đến bệnh lây lan càng nhanh hơn. Có thể một số loài chim nước đã ăn tôm bị bệnh đốm trắng từ ao khác và bay đến ao nuôi đã mang theo các mẩu tôm thừa rơi vào ao nuôi hoặc lây từ người, dụng cụ ao nuôi không được vệ sinh kỹ…

      Sự phát triển và bùng nổ thành bệnh phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu thời tiết và môi trường ao nuôi như vấn đề stress do môi trường, do mật độ cao; Khi tôm mang mầm bệnh và các yếu tố môi trường vượt qua ngưỡng sinh thái thích hợp. Đặc biệt khi thời tiết biến động và thời điểm trước chu kỳ lột xác của tôm.

 

 

 

* Các biện pháp kiểm soát:

- Hiện vẫn chưa có biện pháp chữa trị tôm bị nhiễm virus đốm trắng.

- Sử dụng dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

- Nếu phát hiện tôm bị đốm trắng phải thu hoạch ngay để tránh thiệt hại lớn.

 

 * Biện pháp phòng bệnh tổng hợp:

 a) Quản lý sức khỏe tôm nuôi

- Cần lựa chọn tôm giống từ cơ sở cung cấp giống có tôm bố mẹ được chứng nhận dòng sạch bệnh (dòng SPF - Specific Pathogen Free) hoặc dòng kháng bệnh (dòng SPR - Specific Pathogen Resistant) và có chứng nhận kiểm dịch.

- Tôm giống có kích cỡ đồng đều, phù hợp với lứa tuổi quy định (thẻ chân trắng: PL12 trở lên) để thả nuôi. Nên ương giống từ 20-30 ngày trước khi thả nuôi thịt.

- Cần có chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý, thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng như đạm, đường, mỡ, muối… sẽ đạt tỷ lệ hấp thu cao, quá trình sinh trưởng, phát triển tốt, khi ao nuôi bị ô nhiễm, thời tiết cực đoan, sức khỏe tôm suy giảm nên tăng cường khả năng phòng bệnh bằng cách: định kỳ trộn Hepatic, Lactozyme, Organic, Vime Glucan, Vitamin C Antistress vào thức ăn cho tôm ăn.

b) Quản lý tác nhân gây bệnh

      Trong môi trường ao nuôi khả năng hiện diện của các tác nhân gây bệnh trong nguồn nước, bùn đáy, do lây nhiễm từ môi trường xung quanh, người chăm sóc, dụng cụ, động vật... rất cao. Vì vậy ở từng công đoạn nuôi phải có biện pháp hạn chế, loại bỏ tác nhân gây bệnh. Càng về cuối vụ nuôi thức ăn thừa, phân, lở bờ tích tụ ở đáy ao càng nhiều, đây chính là nơi tác nhân gây bệnh sinh sôi, nếu không quản lý tốt sẽ gây bệnh cho tôm và lây nhiễm sang các ao xung quanh.

- Có hệ thống cấp, thoát nước riêng biệt. Nước trước khi lấy vào ao nuôi phải được kiểm tra chất lượng và trước khi xả ra môi trường phải được xử lý. Đặc biệt, đối với ao nuôi đã bị nhiễm bệnh cần vớt sạch xác tôm chết và đem chôn tại nơi an toàn; loại bỏ hết các loài giáp xác có trong ao nuôi; tiến hành ngâm rửa và vệ sinh kỹ đáy ao bằng vôi đá hoặc formol để loại bỏ mầm bệnh trước khi lấy nước vào ao nuôi; cần có ao lắng để xử lý nước trước khi  cấp vào nuôi. Hạn chế việc can thiệp bằng hóa chất trong ao nuôi.

- Người nuôi tôm phải vệ sinh sạch sẽ trước khi tiếp xúc với ao nuôi và khi chuẩn bị thức ăn và cho ăn. Thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời.

- Các ao nuôi phải có dụng cụ riêng (thau, vợt, dụng cụ cho ăn...) và các dụng cụ này phải được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi sử dụng, bảo quản đúng nơi quy định. Hạn chế thấp nhất các tác nhân từ bên ngoài có thể gây bệnh đến tôm nuôi.

c) Quản lý môi trường ao nuôi

- Chuẩn bị ao nuôi theo đúng quy trình từ các khâu tẩy dọn ao, diệt tạp, phơi đáy, khử trùng nền đáy, nên có ao xử lý để chủ động cấp, thoát nước đảm bảo môi trường nước phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của tôm.

- Sử dụng thức ăn, thuốc thủy sản rõ nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo chất lượng và bảo quản theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Thuốc, hóa chất, chế phẩm vi sinh sử dụng trong nuôi tôm phải nằm trong danh mục các sản phẩm được phép lưu hành theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

- Thường xuyên theo dõi các chỉ tiêu môi trường nước trong ao nuôi (pH, oxy hòa tan, độ kiềm, khí độc...). Trong quá trình nuôi cần thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết, môi trường để điều chỉnh chế độ cho ăn, xử lý môi trường nhằm hạn chế các trường hợp gây sốc, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tôm nuôi.

Ngoài ra chúng ta cần thực hiện một số biện pháp sau:

- Tuân thủ lịch thời vụ.

- Khi phát hiện tôm có dấu hiệu bất thường hoặc chết phải báo ngay với chính quyền địa phương, cán bộ thủy sản để nhận được sự hỗ trợ cần thiết. Đồng thời báo cho những hộ nuôi xung quanh để cùng tăng cường các biện pháp phòng bệnh, tránh mầm bệnh lây lan trên diện rộng.

- Đối với các ao tôm đã có kết quả xét nghiệm dương tính hoặc xác định tôm bị chết không rõ nguyên nhân phải được khử trùng nước, sát khuẩn, xử lý nền đáy, diệt giáp xác và các vật chủ trung gian truyền bệnh, bằng cách dùng chlorin để xử lý ao nuôi với hàm lượng 30ppm (với chlorin có hàm lượng 70%). Vớt xác tôm chết xử lý vôi bột và đem chôn.

- Thời gian ít nhất sau 15 ngày mới rút nước khỏi ao vào ao chứa nước thải. Tuyệt đối không thải nước chưa được xử lý ra môi trường bên ngoài, cải tạo đáy ao và phơi ao, thời gian tối thiểu là 1 tháng. Những người tham gia quá trình xử lý, tiêu hủy tôm phải thực hiện việc vệ sinh cá nhân để tiêu diệt mầm bệnh, tránh phát tán mầm bệnh ra khu vực lân cận.

- Trong năm nên có thời gian nghỉ vụ hoặc nuôi đối tượng khác nhằm loại bỏ triệt để mầm bệnh và tạo môi trường tốt cho đối tượng nuôi chính.

- Người nuôi có sự gắn kết, tương trợ lẫn nhau nhằm tăng cường quản lý môi trường, dịch bệnh, hạ giá thành chi phí…

* Quản lý ao nuôi

- Chú ý quản lý môi trường ao nuôi thật tốt, luôn giữ pH nước ổn định, không để pH biến động giữa buổi sáng và buổi trưa quá 0,5. Định kỳ 7-10 ngày dùng Vimekon  hoặc Vime-Iodine 200 xử lý nước ao nuôi khi tôm còn nhỏ < 30 ngày tuổi, dùng Protectol hoặc Vime-Protex khi tôm >30 ngày tuổi, sau đó, Pond Vs, Aqua-Bacillus hay Pond Max để ổn định môi trường nước trong suốt quá trình nuôi.

- Kiểm soát chặt tảo đáy và mật độ tảo trong ao, dùng Kill-algae khi mật độ tảo trong ao quá dày.

- Quản lý tốt lượng thức ăn cho tôm ăn, không để thức ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường nước, tăng hàm lượng khí độc và làm tảo độc phát triển quá mức trong ao gây nhiễm độc cho tôm.

- Tăng cường sức đề kháng cho tôm: bằng cách định kỳ trộn Probisol, Pectic,Lactozyme, Organic, Vime Glucan, Vitamin C Antistress vào thức ăn cho tôm ăn.

 

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG AO NUÔI

 

1) Bảo đảm oxy hòa tan trong nước:

      Tôm sử dụng oxy hòa tan trong ao để hô hấp. Nhu cầu oxy nhiều hay ít tùy thuộc vào kích cỡ tôm, mật độ nuôi, nhiệt độ và độ mặn: tôm càng lớn, nhu cầu sử dụng oxy càng nhiều, mật độ nuôi càng cao, mức độ tiêu thụ oxy càng lớn, nhiệt độ và độ mặn càng cao thì hàm lượng oxy hòa tan càng giảm.

      Tôm có thể phát triển ở môi trường có hàm lượng oxy hòa tan từ 3-12mg/L nhưng tốt nhất là từ 5-8mg/L. Hàm lượng oxy hòa tan  <5mg/L, tôm vẫn bắt mồi nhưng chúng tiêu thụ thức ăn không hiệu quả và bị tăng nguy cơ nhiễm bệnh, nếu hàm lượng oxy từ 2-3mg/L, tôm sẽ ngừng bắt mồi và yếu hẳn, <2mg/L tôm sẽ chết ngạt.

 - Nhu cầu máy quạt nước cho ao nuôi :

      + Thường ao có độ sâu 1,5m diện tích 3000 m2 phải dùng 4 - 6 máy.

      + Ao sâu 1,5 m trở lên cần 6 - 8 máy, máy đặt cách bờ 4 - 5m.

* Cần chạy quạt 30 phút trước khi cho tôm ăn, sau đó tắt quạt mới cho ăn( tăng oxy kích thích tôm ăn nhiều)

 * Buổi chiều lúc 15-16 giờ chạy quạt 30-60 phút phá tầng nước nóng trên mặt tránh tình trạng tối tôm nổi lên mặt nước do bị sốc nhiệt.

* Tốc độ quạt khoảng 85-120 vòng/phút.

 - Vị trí đặt quạt phù hợp (cách bờ 3m, đặt quạt sao cho chất cặn lắng đọng ở giữa, dòng chảy hợp với hướng giá…)

 - Vận tốc nước= 1,5-2 X chiều dài tôm(cm)/giây.

 - Máy đập nước= 2,13 kg O2 /Kw/giờ.

 - Máy sục khí= 0,97 kg O2 /kw/giờ.

 

 

* Nếu hàm lượng oxy cải thiện không kịp thời nên dùng 1-2kg oxy supplier/1.000m3 nước để tăng hàm lượng oxy cấp thời.

* Máy sục khí là công cụ quản lý môi trường quan trọng nhất trong ao nuôi tôm công nghiệp !!!

2/ pH: 

Do hàm lượng H+ trong nước quyết định.

Độ pH thích hợp để tôm thẻ chân trắng, sú phát triển là từ 7,5-8,5 nhưng tối ưu là từ 7,8-8,2, dao động<0,5/ngày. Nếu pH từ 4-7 hoặc từ 9-11 tôm sẽ chậm lớn, pH<4 hoặc >11 tôm sẽ chết.

+ Ảnh hưởng trực tiếp:

- Thay đổi thành phần dịch cơ thể.

- Giảm khả năng chống chịu của sinh vật ở pH thấp.

- Tổn thương mang và phụ bộ.

- Ảnh hưởng đến quá trình lột vỏ.

+ Ảnh hưởng gián tiếp:

- Ảnh hưởng lên độ độc của H2S, NH3.

- Ảnh hưởng hoạt tính của hóa chất.

* pH thích hợp nhất: 7,8-8,2, dao động <0,5/ngày.

* Biến động pH trong ao:

H+ + HCO3- ↔ H2O + CO2

- Đêm

Do sinh vật hô hấp nhiều tạo ra CO2 trong nước làm pH giảm:

   H+ + HCO3- ← H2O + CO2

- Ngày

       Quang hợp của tảo hấp thu CO2 làm pH tăng

    H+ + HCO3- → H2O + CO2

+ Biến động pH ngày đêm lớn làm tôm chậm lớn, stress.

+ pH cao thường xuyên làm tôm chậm lớn và giảm sức khỏe.

* Điều khiển pH:

- Muốn tăng pH

+ Thay nước mới có pH cao hơn.

+ Bón vôi, bón phân.

+ Gây màu nước: GreenWater 2-3kg/1.000m3.

- Muốn giảm pH

+ Thay nước, giảm mật độ tảo

+ Đánh mật gỉ đường 10l/1.000 m3 nước.

+ Sử dụng CAP 2000: 2-3lít/1.600m3 nước.

- Đo pH: 2 lần/ngày, 8 giờ sáng và 15 giờ chiều, pH phải được đo cách mặt nước 0,4-0,5m và đo ở khu vực cho tôm ăn. Độ pH giữa 2 lần đo không chênh lệch quá 0,5.

 

3/ Độ kiềm:

     Độ kiềm là tổng hàm lượng các chất khoáng Calci, Magie, Kali... ở dạng muối carbonate( CO32-) và bicarbonate (HCO3-) trong đó quan trọng nhất là hai muối Calci carbonate( CaCO3) Magie carbonate( MgCO3) buộc có trong nước ao hoặc trong thức ăn để làm cứng vỏ tôm trong quá trình lột xác và ổn định pH. Nước biển tự nhiên thường có độ kiềm cao trong khi nước ngọt lại có độ kiềm thấp do độ mặn thấp.

  Để tôm thẻ sống và phát triển tốt thì độ kiềm từ 120-160mg/l. Khi độ kiềm <60mg/l hoặc >200 mg/l tôm sẽ khó lột xác hoặc không lột xác được.

- Quan trọng cho tạo vỏ tôm.

-  Ảnh hưởng đến hệ đệm trong ao nuôi

- Nước biển có độ kiềm luôn >110 mg/l

- Tốt nhất cho nuôi tôm là 120-160 mg/l

*  Độ kiềm

- Độ kiềm thấp do:

      + Độ mặn thấp.

      +  Đất phèn.

      + Ít thay nước.

      +  Mật độ tảo cao.

      + Ao nhiều ốc, hến, hà.

       * Dùng Kill-Algae 1 lít/1.000 m3 nước để diệt hến, hà trong ao nuôi.

      - Ao có độ kiềm thấp (<80 mg/l)

      + Gây ra hiện tượng mềm vỏ hay không lột vỏ được.

      + Làm pH thay đổi và khó khống chế.

      + Độ kiềm thay đổi sau mưa ở vùng đất phèn.

      + Cách  khắc phục:

- Ngâm vôi dolomite vào nước ngọt, sục khí sau 4-6 giờ sau đó tạt đều xuống ao lúc 9-10 giở đêm.

- Cứ 1,655g vôi dolomite làm cho 1m3 nước tăng độ kiềm lêm 1 mg/ml.

- Cách tính lượng vôi dolomite: để tăng độ kiềm cho ao 2.000m3 nước từ độ kiềm 90 mg/ml lên 100mg/ml như sau:

Lượng vôi dolomite tính như sau: 2.000 x 1,655 x (100-90)/1.000= 33.1 kg .

Khi tăng độ kiềm trong ao, lưu ý rằng chỉ tăng 1 lần 10 mg/ml, sau đó lặp lại, không tăng 1 lần quá nhiều sẽ làm tôm bị sốc.

* Nếu sử dụng phương pháp trên mà độ kiềm không tăng hoặc tăng quá châm thì chúng chúng ta dùng biện pháp sau:

- Kết hợp 70% lượng vôi cần tính trên là soda (NaHCO3), 30 % còn lại là vôi dolomite+ 4-6 kg khoáng tạt. Ngâm 4-6 giờ sau đó tạt đều ao lúc 9-10 giờ đêm..

* Ngoài ra, người nuôi cần kiểm tra tỉ lệ các Ion kim loại có trong ao nuôi có  tỉ lệ phù hợp theo bảng, nếu tỉ lệ chưa đúng thì cần điều chỉnh cho phù hợp ( nếu theo tỉ lệ bảng dưới thì độ kiềm sẽ ổn định, ít biến đông)

 

 

 

* Độ kiềm phải > 80 khi thả tôm mới bảo đảm tỉ lệ sống cao.

4/ Các khí độc trong ao nuôi tôm: Khí Ammonia (NH3) và Sulphua hydro( H2S):

Đây là 2 loại khí độc hòa tan trong nước. Các loại khí độc này hiện diện trong ao dưới 2 dạng; dạnh khí có độc tính cao và dạng ion ít độc hơn.

* Khí ammonia NH3: sinh ra từ quá tình chuyển hóa thức ăn, phân tôm phân hủy dưới đáy ao, tồn tại trong nước dưới hai dạng: NH4+ khi pH thấp và NH3 khi pH cao.

 NH4+ là nguồn dinh dưỡng để tảo và vi sinh vật phát triển, ít độc cho tôm trong khi NH3 tự do lại là khí độc có thể làm tôm chết hàng loạt( xảy ra khi tảo chết đột ngột hoặc  pH tăng nhanh ).

- Ngoài ra, có thể được vi khuẩn chuyển sang dạng không độc: NH3 (độc) > NO2 ( độc) > NO3 (không độc) bằng cách  dùng men vi sinh:

+ Vime-Bitech(tạt): 1kg/2.000m3 nước

+ Pond Vs: 2l/1.000m3 nước hoặc

+ Aqua-Bacillus: 1kg/3.000m3 nước.

 

  Kết hợp sục khí đầy đủ cho ao.

- NH3 thường gây hại tôm vào sáng sớm và khi màu nước thay đổi

- Thường gặp NH3 cao trong ao đáy cát, bùn cát hay ao có tảo đáy phát triển mạnh.

- Nên đo 3 ngày/lần kể từ tháng thứ 2 trở đi

- Giảm tác hại bằng thay nước, giảm pH và sử dụng chế phẩm sinh học.

 

* Khí H2S trong ao nuôi tôm: có mùi trứng thối, rất độc cho tôm.

- Khí H2S được sinh ra dưới đáy ao do bùn, phân tôm, thức ăn dư thừa.

- Ngoài ra, còn được hình thành do vi khuẩn hoạt động trong điều kiện thiếu oxy ( vi khuẩn yếu khí gây ra)

 - Bùn có màu đen thường có nhiều H2S (cuối vụ nuôi)

- Quản lý ao là làm cho lớp bùn đáy ao có nhiều oxy ( sục khí mạnh ở đáy ao)

- Quản lý thức ăn và oxy sẽ quyết định đến hàm lượng khí H2S.

* Hạn chế khí H2S trong ao nuôi, dùng một trong các sản phẩm sau:

 

 - Pond max: 1kg/5.000m3 nước.

- Aqua-Bacillus: 1kg/3.000 m3 nước

- Pond Vs: 2l/1.000m3 nước.

Định kỳ: 5-7 ngày/lần.

 

5/ Khí độc NO2:

     Thông thường, tôm thẻ chân trắng nuôi thâm canh thường có mật độ cao hơn (ít nhất là gấp đôi) so với nuôi tôm sú thâm canh và khí độc NO2 cũng hiện diện nhiều hơn so với nuôi tôm sú.

     Có nhiều trường hợp bà con nuôi (theo thói quen khi nuôi tôm sú) khi kiểm tra chất lượng nước ao nuôi tôm thẻ chân trắng chỉ kiểm tra NH3 và không phát hiện sự hiện diện của NO2 trong môi trường nước, đến khi nồng độ khí độc này cao sẽ khiến tôm bị lờ đờ, sốc, đỏ thân, chậm lớn,… thậm chí là nổi đầu và chết.

 

Những tình trạng trên chỉ có thể được khắc phục và tôm tăng trưởng tốt trở lại khi vấn đề khí độc được giải quyết. Song, vì tôm thẻ chân trắng được nuôi thâm canh với mật độ rất cao và lượng thức ăn giàu dinh dưỡng được bổ sung vào ao nuôi mỗi ngày là rất lớn,… vì thế mà việc xử lý các khí độc trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng trở nên không hề đơn giản.

a/ Nguồn gốc của Nitrit (NO2) trong ao nuôi tôm:

    NO2 trong ao nuôi bắt nguồn từ NH4+/NH3 qua giai đoạn 1 của quá trình Nitrat hóa chuyển sang NO2 hoặc do NO2 đã tồn tại sẵn trong nguồn nước cấp.

   Bên cạnh đó, quá trình bài tiết của tôm cũng góp phần làm tăng hàm lượng NO2 trong nước. Ngoài ra, lượng oxy trong ao nuôi không đủ để chuyển Nitrit thành Nitrat trong khi thức ăn được bổ sung liên tục,…

b /Những tác hại của NO2 trong ao nuôi tôm:

      Khi ao xuất hiện NO2 chứng tỏ điều kiện môi trường nuôi đã xấu đi, đáy ao bị dơ,… Bản thân NO2 ở mức thấp có thể không gây ảnh hưởng lớn cho tôm, nhưng khi hàm lượng NO2 cao hơn mọi chuyện sẽ khác.

- NO2 kết hợp với Hemocyanin trong máu tôm làm mất khả năng vận chuyển oxy trong máu từ đó khiến tôm nuôi bị ngạt. Khi tôm bị ngạt mãn tính sẽ yếu, dễ mắc bệnh hoặc chết khi sốc môi trường.

Đây là tác hại chung khi gặp vấn đề NO2 trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt.

 


Tôm thẻ chân trắng trong ao có hàm lượng Nitrit cao lột xác không cứng vỏ. Photo by Internet.

 

    Một tác hại phổ biến khác là gây rối loạn cân bằng áp suất thẩm thấu (ở những ao nuôi có độ mặn thấp) do Nitrit cạnh tranh với ion Cl-.

   Tôm bị nhiễm Nitrit có các dấu hiệu như: lột xác không cứng vỏ, tôm chậm lớn, bị tổn thương mang và phù thủng cơ.

    Hàm lượng Nitrit trong ao quá cao, tôm có thể chết hàng loạt hoặc rải rác vào buổi sáng sớm và lúc chiều tối.

 

Ngoài ra, không thể nuôi tôm về kích thước lớn.

c/ Cách xử lý NO2 trong ao nuôi tôm:

- Sử dụng men vi sinh: bằng cách dùng một trong các sản phẩm sau:

- Vime-Aquazyme: 1kg/1.500m3 nước.

- Aqua-Bacillus: 1kg/3.000 m3 nước

- Pond Vs: 2l/1.000m3 nước.

Định kỳ: 5-7 ngày/lần.

- Oxy- Supplier: 2 kg/1.000m3 nước liên tục 3-5 ngày, rãi vào khoảng 8-9 giờ tối.

- Có thể xử lý CaCl2 lượng 20 - 30 kg/1.000m3 định kỳ 2 - 3 ngày nhằm giúp chuyên hóa nitrit NO2.

CaCl2 + 3NO2 =  Ca(NO3)2+ Cl2

 

6/ Độ mặn:

 

- Tôm thẻ có thể nuôi độ mặn từ 0-37%o tốt nhất là từ 15-25%o, độ mặn thay đổi chủ yếu là do thay nước và trời mưa, độ mặn thay đội đột ngột dễ làm tôm bị sốc, do đó lượng nước thay đổi mỗi ngày không vượt quá 30%, trong một giờ không vượt quá 10% lượng nước cần thay.

- Ảnh hưởng của độ mặn: độ mặn cao sẽ làm hàm lượng khoáng vi lượng vô cơ (Ca, Na, Mg,Cl, K…) cao và hàm lượng o xy hòa tan trong nước thấp, tôm dễ bị cứng vỏ, cơ thể chuyển sang màu xanh đen, chậm lớn. Ngược lại, độ mặn thấp sẽ dẫn đến tình trạng thiếu dinh dưỡng vô cơ làm tôm mềm vỏ, có màu trắng.

* Chú ý: trong quá trình nuôi, độ mặn không được biến động  quá 5%o mỗi lần.

 

7/ Nhiệt độ:

 

Tôm là động vật máu lạnh nên nhiệt độ cơ thể luôn tương đồng với nhiệt độ môi trường. Tất cả những biến đổi nhiệt độ trong môi trường nước đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình diễn biến sinh lý trong cơ thể tôm. Nhiệt độ tối ưu để tôm phát triển 28-32oC.

+ Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất:

- Nhiệt độ cao: tôm ăn nhiều, cơ thể hoạt động mạnh.

- Nhiệt độ thấp: giảm ăn, cơ thể hoạt động yếu, nhiệt độ < 24oC tôm giảm ăn.

- Nhiệt độ tăng hay giảm đột ngột đều làm tôm bỏ ăn, dễ nhiễm bệnh và chậm lớn. Tốt nhất nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch không quá 3oC.

Chính vì vậy để ổn định nhiệt độ, mực nước trung bình trong ao nuôi chỉ nên dao động từ 1,2-1,5m, ao cạn quá sẽ làm sự biến động nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn, ao sâu quá sẽ làm nước bị phân tầng và tôm cũng bị sốc nhiệt.

 Ngoài ra, thời điểm nuôi tôm cũng rất quan trọng để ổn định nhiệt độ trong ao. Vụ chính ở các tỉnh miền nam có thể bắt đầu từ tháng 2-3 dương lịch, trong khi các tỉnh miền trung từ tháng 3-4 và các tỉnh Bắc Trung Bộ, Bắc Bộ sớm nhất phải chờ đến giữa tháng 4, khi thời tiết bắt đầu đi vào mùa khô, sự ổn định nhiệt độ môi trường ao nuôi cao.

* Đặc biệt những ngày thời tiết có bão hay áp thấp nhiệt đới tôm dễ bị bệnh nhất là bệnh đốm trắng.

+ Ảnh hưởng gián tiếp của nhiệt độ:

- Thay đổi hoạt tính của hóa chất.

- Môi trường ao nuôi thay đổi: mật độ vi khuẩn, tảo…

8/ Độ trong và màu nước:

- Độ trong của nước phản ánh mật độ tảo và lượng thức ăn tự nhiên có trong ao, tối ưu nhất từ 30-40cm.

- Có thể đo độ trong bằng đĩa Secchi hoặc nhúng cánh tay 1 người trưởng thành xuống ao đến khi không còn nhìn thấy bàn tay nữa, nếu phần cánh tay bị ướt kéo dài từ khuỷu tay đến bàn tay (tương đương 30-40cm) thì độ trong nước ao lúc này là thích hợp.

- Thường sau khi gây màu bằng phân hữu cơ vài ngày, nước ao sẽ xanh lên cho tới độ trong đạt yêu cầu.

* Chú ý: phân biệt độ đục do tảo và do các vật chất lơ lửng khác. Các vật chất lơ lửng này bao gồm các chất thải chưa được chuyển hóa hết, các chất cellulo trong đất tạo ra, các hạt phù sa, hạt sét và mãnh vụn hữu cơ...

Trường hợp nước bị đục do các chất lơ lửng trong nước nhiều sẽ làm ánh sáng không khuyếch tán đều, tảo phát triển kém, dẫn đến các thông số trong môi trường ao biến động lớn giữa ngày và đêm, làm tôm bị sốc, dễ mẫn cảm với bệnh.

Nếu độ trong:   

+  < 20cm-Nguy hiểm về đêm.

 Nên xử lý như sau:

- Thay nước 20-30%.

- Tăng cường chạy quạt.

- 19h tối: Oxy-Suplier: 2kg/1.000 m3 nước.

- 21-22h tối: Bacillus Complex 1kg/2.000 -3.000 m3 nước kết hợp với 10l mật gỉ đường/1.000 m3 nước.

- 4h sáng: Vime-Yucca: 1l/ 2.000-2.500m3 nước.

- Giảm 30% lượng thức ăn.

- Bổ sung men đường ruột: Beta-Zyme 2g/kg thức ăn, Lactozyme 5g/kg, Probisol 5g/kg thức ăn.

+  20-30cm- Tảo quá dày.

Nên xử lý như sau:

- Thay nước 20-30%.

- 8-9h sáng: diệt tảo có thể sử dụng  BKC 80% 1l/2.000m3 nước hoặc Kill-Algae 1l/1.000 m3 nước.

- 22h tối: đánh khoáng tạt 1kg/1.000 m3 nước.

Chú ý: chỉ diệt tảo ở 1/3 ao cuối hướng gió, tránh trường hợp tảo bị diệt hoàn toàn, môi trường biến động ảnh hưởng đến tôm.

- Giảm khoảng 20-30% lượng thức ăn trong ngày.

-  30-40cm- Tảo đẹp, lý tưởng.

     -  40-60 cm Tảo phát triển kém.

- > 60 cm- Nước quá trong, phát triển tảo đáy.

* 2 trường hợp này nên xử lý như sau:

- Kiểm tra lại  lượng thức ăn, mực nước ao nuôi ( Nếu ao nuôi  mực nước thấp nên cấp thêm nước vào để nâng mức nước trong ao nuôi cho thích hợp 1,2-1,5m, không nên cấp nước vào ao nuôi 1 ngày trên 30%).

-8-9h: Gây màu nước: Green Water 1-2kg/1.000 m3 nước.

-Tối 22h tối: sử dụng men vi sinh Pondmax: 1kg/2.000m3 nước hoặc Bacillus Complex:1kg/5.000m3 nước  kết hợp thêm  khoáng tạt 1kg/1.000 m3 nước( khoáng tạt liên tục 5-7 ngày cho đến khi màu nước đẹp trở lại thì ngưng).

 

* Màu nước:

    

 

 

Nước có nhiều tảo  lam có hại  cho ao nuôi vì sự hiện diện và phát triển của chúng có thể tiết chất độc gây bệnh gan tụy, phân trắng, làm tôm nuôi có mùi lạ.

 

* Biện pháp khống chế tảo:


  1. Các chủng vi sinh có thể sử dụng là Bacillus subtilis ( Vime-Subtyl)
  2. Đánh vào ban đêm lúc 10 giờ tối. Có thể lập lại nhiều lần cho đến khi hết tảo lam.
    3. Có thể hòa chế phẩm sinh học với mật đường và sục khí 12 giờ trước khi đánh xuống ao nuôi (lúc 10 giờ đêm) sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn.

Cần chú ý:

  1. Nếu tảo lam đã phát triển dày đặc thì phải  dừng cho tôm ăn và tiến hành thay nước 30 -40%/ngày, thay 2 -3 ngày.
  2. Giảm cho ăn hoặc ngưng cho ăn hẳn làm một trong những điều kiện tiên quyết để xử lý vấn đề này (tảo tàn gây độc, gây đen mang, ảnh hưởng đường tiêu hóa)
  3. Nên quan sát ao nuôi hàng ngày để phát hiện sớm nhất sự xuất hiện của tảo lam. Khi đó việc xử lý sẽ trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn.
  4. Tao lam "dạng hạt" sẽ khó xử lý hơn tảo lam "dạng sợi" gấp nhiều lần.
  5. Vài trường hợp có thể tảo lam không hết hoàn toàn nhưng chắc chắn chúng sẽ không tăng lên thêm.

 

* Màu trà và màu nâu trà.

Trong nước có các loại tảo Chaetoceros, Nitzschia Closterium,  Phaeodactylum tricornutum,…là nguồn thức ăn rất tốt cho ấu trùng tôm. Phù hợp cho tất cả các giai đoạn nuôi.

 

 

* Màu xanh nhạt, xanh lục:

Trong nước có các loại tảo lục như tảo tiểu cầu, tảo Chlamydomonas, thích hợp cho tôm giai đoạn tăng trưởng phát triển (Màu đặc trưng của ao tôm).

 

 

Màu xanh đậm ( đậm mà không đục)

 Chủ yếu bao gồm tảo lục,phù  hợp cho tôm  vào cuối vụ nuôi . Trong nước có ít hạt huyền phù; chất lượng nước ổn định, có tác dụng làm giảm các phản ứng stress cho tôm khi môi trường và thời tiết thay đổi (đạm thừa nhiều mật độ tảo dày, cần xử lý giảm bớt mật độ tảo)

 

 

 

   - Qui luật chung: màu xanh và vàng xanh sẽ dễ duy trì.

  -  Màu nước này thường thấy ở độ mặn < 20ppt.

   - Quản lý màu nước:

     + Tảo thường hay tàn trong tháng đầu và tháng cuối.

     + Có thể kiểm soát tảo bằng cách thay nước hay dùng một trong những hoá chất để diệt bớt tảo: Kill-Algae 1lít/1000m3, Vime- Protectol 1lít/2.000m3, BKC80% 1lít/2000m3.

 

 

9/ Kim loại nặng:

Các kim loại nặng như: chì (Pb), thủy ngân(Hg), sắt(Fe), nhôm(Al)...

Làm tôm bị nhiễm độc và không phát triển được.

Các kim loại này thường hiện diện trong môi trường ở những vùng gần khu công nghiệp và khu dân cư hay dùng nước khoan.

* Hàm lượng kim loại trong nước tốt nhất là không có.

Những vùng đất bị nhiễm phèn thường có dư lượng Fe trong nước cao, trên 1mg/L dùng vôi CaO với liều 200-400kg/ha để hấp thu hết Fe trước khi thả tôm.

Nếu hàm lượng kim loại nặng cao nên dùng Vime-EDTA với liều 0,5-1kg/1.000m3 nước.

 

10/ Tảo và vi khuẩn:

- Có 3 loại tảo thường xuất hiện trong ao nuôi tôm: tảo, tảo xanh, tảo khuê. Trong đó tảo lam và tảo xanh thường có vòng đời dài, làm ô nhiễm nước, xuất hiện ở những vùng nuôi có độ mặn thấp, đặc biệt tảo còn làm cho tôm bị ngộ độc, ốp thân. Tảo khuê có màu vàng nâu ( màu xác bã trà) là loại tảo có chứa nhiều dinh dưỡng tự nhiên, thích hợp làm mồi cho tôm.

- Vai trò của Tảo

      + Sử dụng nguồng dinh dưỡng dư thừa, đặc biệt khi phát triển chúng sẽ sử dụng đạm  và lân làm giảm độc tính của Ammonia.

     + Làm giảm cường độ ánh sáng trong ao, ngăn ngừa sự phát triển của tảo đáy, tạo môi trường thích hợp cho tôm sú phát triển.

      + Sản sinh oxy cho ao, nhưng tuỳ thuộc vào ánh sáng, thời tiết, độ tối/sáng,…

      + Hấp thu khí CO2

      + Hấp thu các chất khí độc (NH3)

       + Tạo ra màu nước, giảm ánh sáng làm tôm ít bị sốc và làm giảm sự phát triển của tảo đáy.

      + Làm tăng nguồn thức ăn tự nhiên trong ao.

  Tuy nhiên quá nhiều phiêu sinh, ban ngày chúng sẽ quang hợp tạo ra rất nhiều oxy trong khi ban đêm lại cạnh tranh oxy với, làm cho sự chênh lệch hàm lượng oxy hòa tan giữa ban ngày lớn, tôm dễ bị sốc.

* Chẳng những vậy, khi lượng phiêu sinh quá nhiều này chết đi sẽ gây ra hiện tượng tảo tàn đột ngột làm ô nhiễm nước ao, biến động môi trường lớn.

Tảo có thể suy tàn do nhiều lý do:

      + Ao bị râm do mật độ phiêu sinh quá dày, do sự hiện diện của các chất lơ lửng trong nước hoặc do sự xáo trộn nước ao kém.

     + Thiếu ánh sáng do trời nhiều mây vào mùa mưa.

     + Thiếu dinh dưỡng; nitow, phospho, CO2... hiện tượng này thường xảy ra ở những vùng có nguồn nước biển kém dinh dưỡng hoặc vào đầu chu kỳ nuôi.

    + Bị phiêu sinh đông vật ăn; luân trùng, giáp xác chân chèo...

    + Bị làm loãng do thay nhiều nước.

 

- Vi khuẩn trong ao nuôi

      + Là thành phần tự nhiên rất quan trọng trong ao nuôi giúp phân giải các vật chất hữu cơ  trong ao nhất  là ở nền đáy.

      + Vi khuẩn  Bacillus đóng vai trò chính trong việc làm sạch ao nuôi.

 

 

 

 

 

t g
0775 009 169
m