Đối tác marketing
VTV Youtube Bao Nguoi chan nuoi TH Ben Tre
NẤM MEN NHƯ MỘT VI KHUẨN CHO BÊ SƠ SINH ĂN TRỰC TIẾP
NẤM MEN NHƯ MỘT VI KHUẨN CHO BÊ SƠ SINH ĂN TRỰC TIẾP
Cập nhật 2020-07-07 01:24:45

Giới thiệu

Trong hầu hết các hệ thống sản xuất sữa, tỷ lệ mắc bệnh và chết cao nhất xảy ra ở những bê trước khi được cai sữa. Chỉ riêng ở Bắc Mỹ, các ghi nhận gần đây nhất về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết của bê tương ứng là 34,9 và 6,4%. Hơn một nửa số ca chết được ghi nhận là do nhiễm trùng đường ruột, nguyên nhân chủ yếu là do các sinh vật gây bệnh.

Bài tóm tắt lược dịch trong tạp chí allaboutfeed.net do Davies biên soạn (4/2020) với tiêu đề “Yeast as a direct-fed microbial for neonatal calves” viết về những đánh giá về nấm men như là một vi khuẩn được cho ăn trực tiếp và những ảnh hưởng mà nó có thể có đến năng suất của bê con. Nội dung của bài tóm tắt được thể hiện ở các phần dưới đây.

Hình minh họa: Các sản phẩm nấm men khô hoạt động (SB) có chứa Saccharomyces cerevisiae hoặc S. cerevisiae boulardii (SCB) có khả năng được công nhận là phụ gia thức ăn phù hợp cho bê.

Bê con dễ bị nhiễm trùng

Nhiễm trùng ruột là bất lợi cho sự sinh trưởng và sức khỏe của bê, và vì thế có ảnh hưởng rõ rệt đến sản xuất và lợi nhuận suốt đời. Bê sơ sinh có thể dễ bị nhiễm trùng do khả năng miễn dịch kém và tỷ lệ nhiễm vi khuẩn cơ hội ở ruột sau trong vài tuần đầu tiên của đời sống.

Phụ gia thức ăn thay thế

Để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm trùng, các nhà sản xuất thường sử dụng kháng sinh dưới mức điều trị cho những sản phẩm thay thế sữa và khẩu phần mới bắt đầu bê. Tuy nhiên, thực tế này có thể không khả thi trong tương lai vì kháng sinh đã được tìm thấy tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, nhiều trong số đó là bệnh lây truyền sang người và có thể gây ra mối đe dọa cho sức khỏe con người. Vì vậy, có động thái hướng tới việc giảm sử dụng kháng sinh dự phòng trong chăn nuôi ở Nam Phi. Tầm quan trọng của hệ vi sinh đường tiêu hóa (GI) trong sự phát triển của hệ miễn dịch đã bắt đầu nhận được nhiều sự chú ý hơn. Do đó, cần phải tìm ra các chất phụ gia thức ăn thay thế có thể cải thiện sự phát triển và sức khỏe của bê bằng cách điều chỉnh hệ vi sinh thường trú trong đường tiêu hóa. Các vi sinh vật được cho ăn trực tiếp (DFM), còn được gọi là men vi sinh probiotic, có thể đáp ứng nhu cầu này.

Những vi khuẩn được ăn vào trực tiếp

DFM bao gồm các vi sinh vật sống tự nhiên có lợi cho vật chủ khi được dùng với liều lượng thích hợp. Điều này có thể bao gồm các sinh vật nhân sơ hoặc sinh vật nhân chuẩn như các vi khuẩn và nấm men. Một DFM tốt phải không độc hại và không gây bệnh, có thể dung nạp acid dạ dày, ức chế sự phát triển của mầm bệnh và tăng cường cơ chế bảo vệ của hệ miễn dịch.

Nấm men

Nấm men có thể là lý tưởng cho mục đích này vì chúng có khả năng chịu được các điều kiện của đường tiêu hóa (như độ pH thấp), đề kháng với kháng sinh và rộng hơn đáng kể so với vi khuẩn (ngụ ý rằng chúng có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh bằng sự cản trở của stearic). Các phụ gia thức ăn khác nhau có chứa nấm men đã được sử dụng thường xuyên trong chăn nuôi.

Hai loại bổ sung nấm men khác nhau thường được sử dụng:

  1. Loại men khô hoạt động (ADY)

Được sản xuất bằng cách làm khô sinh khối nấm men để bảo quản các tế bào này và hoạt tính trao đổi chất của chúng, và nó thường chứa khoảng 15 tỷ đơn vị hình thành khuẩn lạc trên mỗi gram (CFU/g) của các tế bào lên men có thể sống được.

ADY được coi là một chế phẩm sinh học (hoặc DFM).

  1. Nuôi cấy nấm men (YC)

Chỉ chứa một số lượng nhỏ các tế bào có thể sống sót và nó là một sản phẩm được lên men có chứa môi trường nuôi cấy được làm khô và các thành phần của thành tế bào nấm men (như β-glucans và mannanoligosaccharide).

YC được coi là một prebiotic.

2 thuật ngữ này thường được sử dụng thay thế lẫn nhau; tuy nhiên, điều quan trọng là phải phân biệt giữa 2 thuật ngữ vì chúng có các chế độ hoạt động khác nhau trong cơ thể sống (in vivo). Các chủng khác nhau của Saccharomyces cerevisiae (SC) được chấp nhận tốt như DFM trong ngành chăn nuôi. Nhiều chủng đã được đăng ký làm chất ổn định vi sinh đường ruột trong Liên minh châu Âu và được công nhận chính thức ở Bắc Mỹ theo danh sách được công nhận chung là an toàn (GRAS). Cho đến nay, chúng chủ yếu được quảng cáo là phụ gia thức ăn phù hợp cho động vật nhai lại trưởng thành và động vật dạ dày đơn để cải thiện sức khỏe và sản xuất tương ứng cho 2 loài bằng cách ngăn ngừa nhiễm acid bán cấp ở loài nhai lại (SARA) và nhiễm trùng đường ruột. Các nghiên cứu mới nổi có thể cung cấp bằng chứng rằng ADY cũng có lợi cho động vật nhai lại còn non.

Hình minh họa: Các chủng khác nhau của Saccharomyces cerevisiae (SC) được chấp nhận tốt như DFM trong ngành chăn nuôi.

Cân bằng vi sinh vật dạ cỏ

Phụ gia thức ăn có chứa SC đã được sử dụng chủ yếu trong dinh dưỡng động vật nhai lại để thúc đẩy sự cộng sinh của hệ vi sinh vật dạ cỏ, nơi chứa chấp các cộng đồng vi khuẩn, nấm và động vật nguyên sinh. Tuy nhiên, động vật nhai lại không được sinh ra với hệ vi sinh vật dạ cỏ phức tạp như vậy; thay vào đó, cộng đồng vi sinh vật thường trú phải được thành lập thông qua một loạt các thay đổi sâu sắc xảy ra trong giai đoạn trước cai sữa.

Sự thay đổi thành công này bao gồm sự thành lập tuần tự trước tiên là vi khuẩn hiếu khí, sau đó là vi khuẩn kỵ khí và cuối cùng là động vật nguyên sinh. Đạt được một cộng đồng vi khuẩn dạ cỏ ổn định và đa dạng là điều cần thiết để bắt đầu quá trình tiêu hóa thức ăn khô hiệu quả và hấp thụ các sản phẩm lên men. Mặc dù vậy, trong một số hệ thống sản xuất, động vật nhai lại còn non có thể được cai sữa hoàn toàn từ trước khi hệ vi sinh vật dạ cỏ ổn định được thiết lập. Để khắc phục điều này, điều được đề xuất rằng các ADY có chứa SC có thể thúc đẩy sự trưởng thành sớm hơn của hệ vi sinh vật dạ cỏ. Giả thuyết này được nghiên cứu bằng cách sử dụng những con cừu không mầm bệnh được nuôi trong môi trường vô trùng (gnotobiotic).

Tất cả các cừu non được cấy truyền vi khuẩn phân giải tế bào tại các thời điểm cụ thể. Họ phát hiện ra rằng nhóm nhận được chất bổ sung SC có cộng đồng vi khuẩn phân giải tế bào được hình thành nhanh chóng và ổn định hơn trong dạ cỏ trong vòng 42 ngày đầu sau khi sinh. Điều này đã được xác minh bởi một nghiên cứu khác trong đó ảnh hưởng của SC đối với sự xâm nhập của vi khuẩn trong dạ cỏ của những con cừu thông thường đã được nghiên cứu. Điều đã được tìm thấy là số lượng cừu có vi khuẩn phân giải tế bào có trong dạ cỏ vào lúc 2 và 4 ngày sau khi sinh ở nhóm SC lớn hơn nhiều so với nhóm đối chứng. Ngoài ra, khoảng 10 ngày sau khi sinh, 60% cừu con nhận SC có động vật nguyên sinh có trong dạ cỏ, trong khi động vật nguyên sinh chỉ được phát hiện lần đầu hai ngày sau đó trong nhóm đối chứng. Động vật nguyên sinh có long rung không được thiết lập trong dạ cỏ trừ khi đã có quần thể vi khuẩn, vì vậy sự hiện diện của động vật nguyên sinh có thể là dấu hiệu cho thấy sự ổn định và trưởng thành của hệ vi sinh vật dạ cỏ. SC có thể thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn phân giải tế bào kỵ khí cao trong dạ cỏ bằng cách thu nhặt oxy và cung cấp các vitamin, acid amin và peptide mà chúng kích thích sự phát triển của vi khuẩn. Dường như không có nghiên cứu nào được thực hiện để xem xét ảnh hưởng của SC đến sự trưởng thành của hệ vi sinh vật dạ cỏ của bê.

Hình minh họa: Trong một nghiên cứu đã được quan sát thấy rằng bê nhận được sữa thay thế có bổ sung SCB trải qua ít ngày tiêu chảy hơn.

Tuy nhiên, 2 nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của SC đến năng suất của bê. Trong một nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng bê nhận được SC đã cải thiện lượng chất khô ăn vào (DMI) và tăng trưởng. Trong nghiên cứu khác, không có sự khác biệt được thấy về tốc độ tăng trưởng của bê. Tuy nhiên, có DMI cao hơn đáng kể ở những con bê nhận được SC. Hơn nữa, người ta phát hiện ra rằng bê trong nhóm được cho ăn SC có nồng độ ammonia, propionate và butyrate cao hơn trong dạ cỏ. Nghiên cứu cho thấy những kết quả này có thể bị ảnh hưởng bởi sự trưởng thành sớm hơn của hệ vi sinh vật dạ cỏ, sau đó sẽ tăng cường quá trình lên men dạ cỏ, cải thiện tiêu hóa và thúc đẩy tăng trưởng.

Cân bằng vi khuẩn đường ruột

Phân loài S. cerevisiae boulardii (SCB) thường được sử dụng như một ADY trong dinh dưỡng của loài độc vị với mục đích ngăn ngừa và điều trị nhiễm trùng đường ruột. Động vật nhai lại còn non thường được coi là có bộ máy tiêu hóa tương tự về thể chất và chức năng với động vật có dạ dày đơn và do đó, SCB có thể mang lại lợi ích sức khỏe tương tự cho bê. Do đó, hầu hết các nghiên cứu mới nổi đã tập trung vào việc sử dụng loài này trong dinh dưỡng bê. Để bắt đầu, trong một nghiên cứu đã quan sát thấy rằng bê nhận được sữa thay thế có bổ sung SCB trải qua ít ngày tiêu chảy hơn. Ngoài ra, đã có báo cáo rằng bê nhận được SCB ít có khả năng bị tiêu chảy nghiêm trọng và do đó được điều trị bằng kháng sinh ít hơn. Người ta cũng phát hiện ra rằng bê bị tiêu chảy nhận được bổ sung SCB được quản lý để duy trì lượng chất khô ăn vào và tốc độ tăng trưởng tương tự như bê không bị tiêu chảy.

Bổ sung SCB vào chất thay thế sữa có thể thúc đẩy sự cộng sinh trong cộng đồng vi khuẩn đường ruột, có thể ngăn ngừa tiêu chảy bằng cách ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh và bằng cách thúc đẩy sự phát triển của hệ miễn dịch. Điều này có tầm quan trọng rất lớn đối với bê sơ sinh vì chúng dựa vào các phản ứng miễn dịch bẩm sinh không đặc hiệu và việc làm giảm bớt các kháng thể của mẹ như một cơ chế bảo vệ chống lại mầm bệnh xâm nhập. Trong một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng bê nhận được SCB có tỷ lệ Lactobacilli (vi khuẩn thúc đẩy sức khỏe đường ruột) trong phân của chúng nhiều hơn. Điều này xác nhận lý thuyết rằng SCB có thể thúc đẩy sự phát triển của các vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa. Ngoài ra, người ta còn thấy rằng việc bổ sung SCB đã ảnh hưởng đến mô học của kết tràng bằng cách giảm đáng kể độ sâu và chiều rộng của hốc. Điều này có thể đã làm giảm diện tích bề mặt hữu dụng cho sự gắn kết các vi sinh vật, do đó làm giảm nguy cơ chuyển dịch của mầm bệnh. Người ta cũng thấy rằng SCB có ảnh hưởng đến sự điều biến hệ miễn dịch ở bê. Điều cũng được phát hiện thấy các cơ chế bảo vệ của hệ miễn dịch bẩm sinh như sự thực bào và khả năng bùng phát oxy hóa mà có liên quan đến việc nhấn chìm và tiêu diệt mầm bệnh, đã được tăng cường ở bê nhận SCB.

Giá trị của các sản phẩm nấm men

Mặc dù kết quả tích cực đã được quan sát trong các nghiên cứu này, những lợi ích của việc sử dụng các sản phẩm ADY vẫn chưa được đảm bảo ở bê. Điều này là do thực tế là một số nghiên cứu đã báo cáo không có cải thiện về năng suất của bê khi ADY được cấp. Vì thế, nghiên cứu sâu hơn cần được tiến hành để hiểu tại sao một số nghiên cứu có thể thu được kết quả tích cực và những nghiên cứu khác thì không. Một số nhà nghiên cứu suy đoán rằng điều này có thể là do sự thay đổi của chủng nấm men được sử dụng, liều lượng, loại sản phẩm của nấm men, khẩu phần được cung cấp, tình trạng sinh lý của động vật và thực hành chăn nuôi được sử dụng. Trong một nghiên cứu, nơi mà các bê Holstein nhận được sữa thay thế có bổ sung SCB, các nhà nghiên cứu đã không quan sát thấy bất kỳ cải thiện nào về sự phát triển và sức khỏe của bê. Họ báo cáo rằng tất cả các bê này đều có sức khỏe tốt trong suốt thời gian thử nghiệm và cho rằng bổ sung ADY có thể có lợi hơn cho bê con khi nó gặp phải thách thức về bệnh hoặc stress.

Kết luận

Dựa trên các nghiên cứu được đề cập trong đánh giá này, các sản phẩm ADY có chứa SC hoặc SCB có khả năng được công nhận là phụ gia thức ăn phù hợp cho bê. Chúng có thể cải thiện năng suất của bê bằng cách thúc đẩy sự cộng sinh của cộng đồng vi khuẩn dạ cỏ hoặc ở ruột. Các nghiên cứu gần đây nhất tập trung chủ yếu vào các ADY có chứa SCB, cho thấy nó có thể làm giảm tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của bệnh tiêu chảy bằng cách thúc đẩy sự phát triển hệ vi sinh có lợi của đường tiêu hóa và cải thiện những phản ứng của hệ miễn dịch bẩm sinh. Mặc dù vậy, kết quả thu được thay đổi khác nhau giữa các nghiên cứu và nghiên cứu tiếp theo là cần thiết để hiểu tại sao có sự chênh lệch. Các nghiên cứu bổ sung nên cố gắng điều tra thêm về các phương thức hoạt động của ADY, đặc biệt là ở những bê con bị đối mặt với stress. Điều này có thể hỗ trợ các nhà dinh dưỡng trong việc thiết lập các hướng dẫn rõ ràng về việc sử dụng ADY trong dinh dưỡng của bê.

PGS Bùi Xuân Mến, Trung tâm RD Vemedim.

Tài liệu tham khảo

Davies, S.J. 2020. Yeast as a direct-fed microbial for neonatal calves.

https://www.allaboutfeed.net/Feed-Additives/Articles/2020/4/Yeast-as-a-direct-fed-microbial-for-neonatal-calves-567692E/?intcmp=related-content&intcmp=related-content.

t g
0775 009 169
m